} catch (e) {}; //]]>
Giỏ hàng

Vi Diệu Pháp - Hiện Thực Trong Cuộc Sống

Thương hiệu: Khác
|
199,000₫ 259,000₫

Vi Diệu Pháp - Hiện Thực Trong Cuộc Sống

Tiêu đề
Hotline hỗ trợ: 093 6041 017
|
Số lượng

“Vi-diệu-pháp hiện-thực trong cuộc sống” là quyển sách giảng giải về sự thật sinh hoạt hằng ngày đêm trong cuộc sống bình thường của mỗi người trong đời.

Vi-diệu-pháp (Abhidhamma) là pháp vô cùng vi-tế, vô cùng sâu sắc rất khó hiểu, bởi vì vi-diệupháp thuộc về chân-nghĩa-pháp (paramattha- dhamma) gồm có 4 pháp là citta: tâm, cetasika: tâm-sở, rūpa: sắc-pháp, Nibbāna: Niết-bàn. Bốn pháp này trong mỗi chúng-sinh nói chung, mỗi người nói riêng đều có đủ 3 pháp là sắc-pháp (rūpa), tâm (citta), tâm-sở (cetasika).

Vi Diệu pháp hiện thực trong cuộc sống

Còn Niết-bàn (Nibbāna) là đối-tượng siêutam-giới ở bên ngoài thân của mỗi chúng-sinh.

Niết-bàn chỉ là đối-tượng của 4 Thánh-đạo, 4 Thánh-quả mà thôi.

Mỗi người đều có 3 chân-nghĩa-pháp (paramat- thadhamma) là tâm (citta), tâm-sở (cetasika), sắc-pháp (rūpa).

- Tâm (citta) gồm có 89 hoặc 121 tâm. - Tâm-sở (cetasika) gồm có 52 tâm-sở. - Sắc-pháp (rūpa) gồm có 28 sắc-pháp.

Mỗi người gồm có thân và tâm riêng biệt luôn luôn nương nhờ lẫn nhau, nếu khi tâm rời khỏi thân (chết) thì thân này liền trở thành tử thi.

* Thân của mỗi người bình thường chỉ có 27 sắc-pháp mà thôi.

- Nếu là người nam thì trừ sắc-nữ-tính. - Nếu là người nữ thì trừ sắc-nam-tính.

Trường hợp nếu người nào bị đui mù, câm điếc thì người ấy bị giảm sắc-pháp theo bệnh tật.

* Tâm gồm có tâm (citta) và tâm-sở (cetasika).

- Tâm: citta gồm có 89 hoặc 121 tâm. - Tâm-sở: cetasika gồm có 52 tâm-sở luôn luôn tuỳ thuộc vào tâm, có 4 trạng-thái.

- Đồng sinh với tâm (ekuppāda). - Đồng diệt với tâm (ekanirodha) - Đồng đối-tượng với tâm (ekālambana). - Đồng nơi sinh với tâm (ekavatthuka).

Khi mỗi tâm phát sinh thì ắt có một số tâm-sở đồng sinh với tâm, đồng diệt với tâm, đồng đốitượng với tâm, đồng nơi sinh với tâm.

Mỗi chúng-sinh có số lượng tâm nhiều hoặc ít không giống nhau, tuỳ theo mỗi loài chúng-sinh, mỗi hạng chúng-sinh trong tam-giới gồm có 31 cõi-giới với 4 loài là thai-sinh, noãn-sinh, thấpsinh, hoá-sinh.

Vi-diệu-pháp hiện thực trong cuộc sống như thế nào?

Để tìm hiểu về vấn đề này, cần phải nêu ra các câu hỏi vấn đáp như sau:

V- Thấy sư hay không? Đ- Dạ, thấy ạ.

V- Vậy, ai thấy? Đ- Dạ, con thấy ạ.

V- Nhắm đôi mắt lại, con có thấy hay không? Đ- Nhắm đôi mắt lại, con không thấy ạ.

V- Vừa rồi nói: ‘con thấy’ sao bây giờ nói: ‘con không thấy’? Đ- Vừa rồi mở mắt, nên con thấy, bây giờ nhắm mắt, nên con không thấy ạ.

V- Vậy, sự thấy đó là con thấy hay mắt thấy? Đ- Dạ, mắt thấy, không phải con thấy ạ.

V- Khi mở đôi mắt nhưng tâm chăm chú suy nghĩ điều quan trọng nào đó, thì đôi mắt có thấy được đối-tượng trước mặt hay không? Đ- Dạ, mắt không thấy ạ.

V- Tại sao mở đôi mắt mà không thấy? Đ- Bởi vì tâm không chú ý tiếp nhận đối-tượng trước mắt, dù cho mở đôi mắt cũng không thấy ạ.

V- Nếu nhắm đôi mắt, rồi tâm chú ý đến đốitượng thì có thấy được đối-tượng trước mặt hay không? Đ- Tâm không thấy được ạ.

Tóm lại những câu trả lời:

* Con không thể thấy được, bởi vì con chỉ là danh từ chế định mà thôi, không có thật-tánh. * Chỉ có mắt cũng không thấy được. * Chỉ có tâm cũng không thấy được.

Thấy là sự thật hiển nhiên, vậy, do nhờ tâm nào mà thấy được?

Để hiểu rõ câu hỏi khó hình dung này, nên nêu ra thí dụ cụ thể bằng câu hỏi vấn đáp như sau:

V- Con có từng nghe tiếng chuông hay không? Đ- Dạ, con đã từng nghe tiếng chuông ạ.

V- Trong dùi chuông có tiếng chuông hay không? Đ- Trong dùi chuông không có tiếng chuông ạ.

V- Trong cái chuông có tiếng chuông hay không? Đ- Trong cái chuông không có tiếng chuông ạ.

V- Vậy, tiếng chuông do đâu mà có? Đ- Tiếng chuông phát sinh do cái dùi chuông đánh đụng vào cái chuông.

Cũng tương tự như v ậy, đối-tượng sắc (rūpārammaṇa) bên ngoài tiếp xúc với nhãntịnh-sắc (cakkhupasāda) (mắt) bên trong, do sự tiếp xúc ấy, nên phát sinh nhãn-thức-tâm (cakkhuviññāṇa) làm phận sự thấy đối-tượng sắc.

Vì vậy, chỉ có mắt tốt (cakkhupasāda) bên trong không thấy được và chỉ có tâm c ũng không thấy được.

Nếu khi đối-tượng sắc (rūpārammaṇa) bên ngoài tiếp xúc với nhãn-tịnh-sắc (cakkhupasāda) (mắt tốt) bên trong, do sự tiếp xúc ấy, nên phát sinh tâm ấy gọi là nhãn-thức-tâm là tâm phát sinh do đối-tượng sắc bên ngoài tiếp xúc với nhãn-tịnh-sắc (mắt) bên trong, cho nên, chỉ có nhãn-thức-tâm này làm phận sự thấy đối-tượng sắc ấy được mà thôi.

Ngoài nhãn-thức-tâm ra, không có chúngsinh nào thấy đối-tượng sắc ấy được.

Nếu nói đúng theo sự-thật chân-nghĩa-pháp (paramatthasacca) thì chỉ có nhãn-thức-tâm làm phận sự thấy đối-tượng sắc mà thôi, không phải ta thấy đối-tượng sắc, cũng không phải người thấy đối-tượng sắc, không phải chúng-sinh nào thấy đối-tượng sắc được.

* Theo bộ Abhidhammatthasaṅgaha: Vi-diệupháp-yếu-nghĩa, cakkhuviññāṇa: nhãn-thức-tâm phát sinh do hội đủ 4 nhân-duyên:

1- Nhãn-tịnh-sắc (mắt tốt) không bị mù. 2- Đối-tượng sắc rõ ràng tiếp xúc với nhãn- tịnh-sắc. 3- Ánh sáng đủ thấy được. 4- Ngũ-môn-hướng-tâm tiếp nhận đối-tượng sắc.

Khi hội đủ 4 nhân-duyên ấy thì cakkhuviññāṇa: nhãn-thức-tâm phát sinh làm phận sự thấy đối-tượng sắc.

Nhãn-thức-tâm phát sinh do nhân-duyên, nên thuộc về pháp-vô-ngã (anattā).

Trong 89 tâm, chỉ có 2 nhãn-thức-tâm làm phận sự thấy đối-tượng sắc mà thôi, còn lại 87 tâm không có phận sự thấy đối-tượng sắc.

Nhãn-thức-tâm có 2 tâm thấy đối-tượng sắc tính chất khác nhau:

- 1 nhãn-thức-tâm thuộc về thiện-quả vônhân-tâm là quả của đại-thiện-nghiệp làm phận sự thấy đối-tượng sắc tốt đáng hài lòng.

- 1 nhãn-thức-tâm thuộc về bất-thiện-quả vônhân-tâm là quả của bất-thiện-nghiệp (ác-nghiệp) làm phận sự thấy đối-tượng sắc xấu không đáng hài lòng.

- Tương tự như trên, đối-tượng âm-thanh (saddārammaṇa) bên ngoài tiếp xúc với nhĩtịnh-sắc (sotapasāda) (tai) bên trong, do sự tiếp xúc ấy, nên phát sinh nhĩ-thức-tâm (sotaviññāṇa) làm phận sự nghe đối-tượng âm-thanh.

Vì vậy, chỉ có tai tốt (sotapasāda) bên trong không nghe được và chỉ có tâm c ũng không nghe được.

Nếu khi đối-tượng âm-thanh (saddārammaṇa) bên ngoài tiếp xúc với nhĩ-tịnh-sắc (sotapasāda) (tai tốt) bên trong, do sự tiếp xúc ấy, nên phát sinh tâm ấy gọi là nhĩ-thức-tâm là tâm phát sinh do đối-tượng âm-thanh bên ngoài tiếp xúc với nhĩ-tịnh-sắc (mắt) bên trong, cho nên, chỉ có nhĩ-thức-tâm này làm phận sự nghe đối-tượng âm-thanh ấy được mà thôi.

Ngoài nhĩ-thức-tâm ra, không có chúng-sinh nào nghe đối-tượng âm-thanh ấy được.

Nếu nói đúng theo sự-thật chân-nghĩa-pháp (paramatthasacca) thì chỉ có nhĩ-thức-tâm làm phận sự nghe đối-tượng âm-thanh mà thôi, không phải ta nghe đối-tượng âm-thanh, cũng không phải người nghe đối-tượng âm-thanh, không phải chúng-sinh nào nghe đối-tượng âmthanh cả.

* Theo bộ Abhidhammatthasaṅgaha: Vi-diệupháp-yếu-nghĩa, khi sotaviññāṇa: nhĩ-thức-tâm phát sinh do hội đủ 4 nhân-duyên:

1- Nhĩ-tịnh-sắc (tai tốt) không bị điếc. 2- Đối-tượng âm-thanh rõ ràng tiếp xúc với nhĩ-tịnh-sắc. 3- Không gian không bị vật cản bao kín. 4- Ngũ-môn-hướng-tâm tiếp nhận đối-tượng âm-thanh.

Khi hội đủ 4 nhân-duyên ấy thì sotaviññāṇa, nhĩ-thức-tâm phát sinh làm phận sự nghe đốitượng âm-thanh.

Nhĩ-thức-tâm phát sinh do nhân-duyên, nên thuộc về pháp-vô-ngã (anattā).

Trong 89 tâm, chỉ có 2 nhĩ-thức-tâm làm phận sự nghe đối-tượng âm-thanh mà thôi, còn lại 87 tâm không có phận sự nghe đối-tượng âm-thanh. Nhĩ-thức-tâm có 2 tâm nghe đối-tượng âmthanh tính chất khác nhau:

- 1 nhĩ-thức-tâm thuộc về thiện-quả vô-nhântâm là quả của đại-thiện-nghiệp làm phận sự nghe đối-tượng âm-thanh hay đáng hài lòng.

- 1 nhĩ-thức-tâm thuộc về bất-thiện-quả vônhân-tâm là quả của bất-thiện-nghiệp (ác-nghiệp) làm phận sự nghe đối-tượng âm-thanh dở không đáng hài lòng.

Tương tự như trên:

- Ghānaviññāṇa: tỷ-thức-tâm làm phận sự ngửi đối-tượng mùi hương.

- Jivhāviññāṇa: thiệt-thức-tâm làm phận sự nếm đối-tượng vị. - Kāyaviññāṇa: thân-thức-tâm làm phận sự xúc-giác đối-tượng xúc.

Thật ra, 5 thức-tâm: nhãn-thức-tâm, nhĩthức-tâm, tỷ-thức-tâm, thiệt-thức-tâm, thân-thứctâm này chỉ có khả năng biết đối-tượng chânnghĩa-pháp (paramatthadhamma) mà thôi, không thể biết đối-tượng chế-định-pháp (paññattidhamma).

- Manoviññāṇa: ý-thức-tâm làm phận sự biết đối-tượng pháp gồm có đối-tượng chân-nghĩapháp (paramatthadhamma) và đối-tượng chếđịnh-pháp (paññattidhamma).

Mỗi tâm phát sinh đều do nhân-duyên của mỗi tâm nên thuộc về pháp-vô-ngã (anattā).

Tuy nhiên, nói theo sự-thật chế-định-pháp (sammutisacca) là sự-thật do ngôn ngữ chế định, ví dụ: nếu tiếng Việt thì nói rằng:

- Ta thấy đối-tượng sắc ấy, … - Ta nghe đối-tượng âm-thanh ấy, … - Ta ngửi đối-tượng mùi hương ấ ,… - Ta nếm đối-tượng vị ấy, … - Ta xúc-giác đối-tượng xúc ấy, - Ta biết đối-tượng pháp ấy, …

Nhưng nếu nói đúng theo sự-thật chân-nghĩapháp (paramatthadhamma) không phải ta thấy đối-tượng sắc, mà sự-thật là cakkhuviññāṇa: nhãn-thức-tâm làm phận sự thấy đối-tượng sắc.

- Không phải ta nghe đối-tượng âm-thanh, mà sự-thật là sotaviññāṇa: nhĩ-thức-tâm làm phận sự nghe đối-tượng âm-thanh.

- Không phải ta ngửi đối-tượng mùi hương, mà sự-thật là ghānaviññāṇa: tỷ-thức-tâm làm phận sự ngửi đối-tượng mùi hương.

- Không phải ta nếm đối-tượng vị, mà sự-thật là jivhāviññāṇa: thiệt-thức-tâm làm phận sự nếm đối-tượng vị.

- Không phải ta xúc-giác đối-tượng xúc, mà sự-thật là kāyaviññāṇa: thân-thức-tâm làm phận sự xúc-giác đối-tượng xúc.

- Không phải ta biết đối-tượng pháp, mà sựthật là manoviññāṇa: ý-thức-tâm làm phận sự biết đối-tượng pháp, …

Như vậy, trong cuộc sống hằng ngày đêm, đối với mỗi người nói riêng, đối với tất cả m ọi chúng-sinh nói chung, đều sống với vi-diệupháp, chết cũng với vi-diệu-pháp mà không một ai biết cả, cho đến khi có Đức-Phật ChánhĐẳng-Giác xuất hiện trên thế gian, thuyết pháp giảng giải dạy dỗ các hàng thanh-văn đệ-tử của Đức-Phật, khi ấy các chúng-sinh có duyên lành mới hiểu biết về vi-diệu-pháp này, nên mới hiểu biết về sự-thật chân-nghĩa-pháp này được.

Hiểu biết sự-thật chân-nghĩa-pháp

Trong thời-kỳ không có Đức-Phật ChánhĐẳng-Giác xuất hiện trên thế gian, tất cả mọi chúng-sinh trong các cõi-giới chỉ có biết về sựthật chế-định-pháp (paññattidhamma) gọi là sammutisacca là sự-thật do mỗi loại ngôn ngữ chế định mà thôi, hoàn toàn không có một vị đạo-sư nào có khả năng biết về sự-thật chânnghĩa-pháp (paramatthadhamma) cả.

Trong thời-kỳ Đức-Phật Chánh-Đẳng-Giác xuất hiện trên thế gian, Đức-Phật có trí-tuệ siêu việt thuyết pháp giảng giải dạy dỗ các hàng thanh-văn đệ-tử của Đức-Phật, hiểu biết về sựthật chân-nghĩa-pháp (paramatthadhamma) này.

Vậy, các hàng thanh-văn đệ-tử của Đức-Phật hiểu biết sự-thật chân-nghĩa-pháp (paramattha- dhamma) này được sự lợi ích, sự tiến hoá, sự an-lạc như thế nào?

Các hàng thanh-văn đệ-tử của Đức-Phật hiểu biết về sự-thật chân-nghĩa-pháp (paramatthadhamdhamma) này, sẽ được sự lợi ích như sau:

- Nếu khi thấy đối-tượng sắc, thì có trí-tuệ thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ nhãn-thức-tâm thấy đối-tượng sắc, không phải là ta thấy đối-tượng sắc hình dáng, nên diệt được tà-kiến thấy sai chấp lầm nơi chủ thể là nhãn-thức-tâm cho là ta thấy, đồng thời diệt được tà-kiến thấy sai chấp lầm nơi đối-tượng cho là tốt hoặc xấu, nên diệt được tham-ái trong đối-tượng ấy, cũng đồng thời diệt được ngã-mạn cho là ta nữa.

- Nếu khi nghe đối-tượng âm-thanh, thì có trítuệ thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ nhĩ-thức-tâm nghe đối-tượng âm-thanh, không phải là ta nghe đốitượng âm-thanh, nên diệt được tà-kiến thấy sai chấp lầm nơi chủ thể là nhĩ-thức-tâm cho là ta nghe, đồng thời diệt được tà-kiến thấy sai chấp lầm nơi đối-tượng cho là âm thanh hay hoặc dở, nên diệt được tham-ái trong đối-tượng ấy, cũng đồng thời diệt được ngã-mạn cho là ta nữa.

- Nếu khi ngửi đối-tượng mùi hương, thì có trí-tuệ thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ tỷ-thức-tâm ngửi đối-tượng mùi hương, không phải là ta ngửi đối-tượng mùi hương, nên diệt được tàkiến thấy sai chấp lầm nơi chủ thể là tỷ-thứctâm cho là ta ngửi, đồng thời diệt được tà-kiến thấy sai chấp lầm nơi đối-tượng cho là thơm tho hoặc hôi thối, nên diệt được tham-ái trong đốitượng ấy, cũng đồng thời diệt được ngã-mạn cho là ta nữa.

- Nếu khi nếm đối-tượng vị, thì có trí-tuệ thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ thiệt-thức-tâm n ếm đối-tượng vị, không phải là ta nếm đối-tượng vị, nên diệt được tà-kiến thấy sai chấp lầm nơi chủ thể là thiệt-thức-tâm cho là ta nếm, đồng thời diệt được tà-kiến thấy sai chấp lầm nơi đốitượng cho là vị ngon hoặc vị dở, nên diệt được tham-ái trong đối-tượng ấy, cũng đồng thời diệt được ngã-mạn cho là ta nữa.

- Nếu khi xúc-giác đối-tượng xúc, thì có trí-tuệ thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ thân-thức-tâm xúc-giác đối-tượng xúc, không phải là ta xúc-giác đốitượng xúc, nên diệt được tà-kiến thấy sai chấp lầm nơi chủ thể là thân-thức-tâm cho là ta xúcgiác, đồng thời diệt được tà-kiến thấy sai chấp lầm nơi đối-tượng cho là mềm mại hoặc thô cứng, nên diệt được tham-ái trong đối-tượng ấy, cũng đồng thời diệt được ngã-mạn cho là ta nữa.

- Nếu khi biết đối-tượng pháp, thì có trí-tuệ thiền-tuệ thấy rõ, biết rõ ý-thức-tâm biết đốitượng pháp, không phải là ta biết đối-tượng pháp, nên diệt được tà-kiến thấy sai chấp lầm nơi chủ thể là ý-thức-tâm cho là ta biết, đồng thời diệt được tà-kiến thấy sai chấp lầm nơi đốitượng cho là hài lòng hoan-hỷ hoặc khổ tâm sầu não, nên diệt được tham-ái trong đối-tượng ấy, cũng đồng thời diệt được ngã-mạn cho là ta nữa, v.v…

Tà-kiến, tham-ái, ngã-mạn 3 pháp này gọi là papañcadhamma là pháp-trì-hoãn sự giải thoát khổ tử sinh luân-hồi trong 3 giới 4 loài.

Đức-Phật thuyết-pháp giảng dạy các hàng thanh-văn đệ-tử nên cố gắng tinh-tấn thực-hành pháp-hành thiền-tuệ để diệt tận tà-kiến, thamái, ngã-mạn này.

Thực-hành pháp-hành thiền-tuệ

Hành-giả thực-hành pháp-hành thiền-tuệ, điều trước tiên cần phải học hỏi hiểu biết rõ đốitượng thiền-tuệ đó là sắc-pháp, danh-pháp thuộc về chân-nghĩa-pháp (paramatthadhamma), không phải là chế-định-pháp (paññattidhamma).

- Nếu sắc-pháp, danh-pháp thuộc về chế-địnhpháp (paññattidhamma) thì không có thật-tánh không phải là đối-tượng thiền-tuệ, bởi vì không có sự sinh, sự diệt, không có 3 trạng-thái-chung: trạng-thái vô-thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã. - Nếu sắc-pháp, danh-pháp thuộc về chânnghĩa-pháp (paramatthadhamma) thì có thậttánh là đối-tượng thiền-tuệ, bởi vì có sự sinh, sự diệt c ủa sắc-pháp, danh-pháp, có 3 trạngthái-chung: trạng-thái vô-thường, trạng-thái khổ, trạng-thái vô-ngã của sắc-pháp, danh-pháp.

- Sắc-pháp(rūpadhamma) gồm có 28 sắc-pháp.

- Danh-pháp (nāmadhamma) gồm có tâm (citta) và tâm-sở (cetasika).

Tâm (citta) gồm có 89 hoặc 121 tâm. Tâm-sở (cetasika) gồm có 52 tâm-sở luôn luôn tuỳ thuộc vào tâm, có 4 trạng-thái:

- Đồng sinh với tâm (ekuppāda). - Đồng diệt với tâm (ekanirodha). - Đồng đối-tượng với tâm (ekālambana). - Đồng nơi sinh với tâm (ekavatthuka).

Khi mỗi tâm nào phát sinh thì chắc chắn có số tâm-sở đồng sinh với tâm ấy, số tâm-sở ít hoặc nhiều tuỳ theo năng lực của mỗi tâm ấy.

Mỗi tâm với tâm-sở có 3 sát-na-tâm: - Uppādakkhaṇa: sát-na-sinh. - Ṭhitikhaṇa: sát-na-trụ. - Bhaṅgakhaṇa: sát-na-diệt.

Đức-Phật dạy trong Chi-bộ kinh, phần Ekakanipāta rằng:

- Này chư tỳ-khưu! Như-lai không thấy pháp nào có sự sinh, sự diệt liên tục vô cùng mau lẹ như tâm.

Trong bộ Chú-giải giảng giải rằng:

“Chỉ một lần búng đầu ngón tay, tâm với tâm- sở sinh rồi diệt 1.000 tỷ lần.”(1)

Tâm có 89 hoặc 121 được phân chia làm 6 loại tâm, biết 6 ārammaṇa: đối-tượng, phát sinh

1 Chú-giải Sam. Khandhavagga, kinh Pheṇapiṇḍūpamāsuttavaṇṇanā.

do nương nhờ 6 vatthurūpa: nơi sinh của tâm với tâm-sở. Tâm phân chia theo phận sự có 14 kicca phận sự:

Có số tâm có 1 phận sự, có số tâm có 2 phận sự, có số tâm có 3 phận sự, có số tâm có 4 phận sự, có số tâm có nhiều nhất 5 phận sự.

Nếu có ai hỏi rằng: “tâm ở đâu?” đó là câu hỏi không chỉ định rõ ràng, nên khó trả lời chính xác được, mà nên đặt lại câu hỏi rằng:

“Muốn biết tâm nào trong 89 hoặc 121 tâm?”

Bởi vì mỗi tâm với tâm-sở phát sinh do nương nhờ 6 nơi sinh (vatthu) khác nhau, biết 6 đốitượng (ārammaṇa) khác nhau, làm 14 phận sự (kicca) khác nhau, v.v…

ĐÁNH GIÁ SẢN PHẨM

Sản phẩm đã xem

0₫ 0₫
Facebook Instagram Youtube Top