} catch (e) {}; //]]>
Giỏ hàng

Trí tuệ siêu việt (Parami) Ngài Hộ Pháp

Thương hiệu: Khác
|
79,000₫


Trí tuệ là gì?

Trí tuệ dịch từ tiếng Pāḷi: Paññā.

 Sự thật, mỗi khi chúng sinh chết chỉ còn tất cả mọi thiện nghiệp, mọi ác nghiệp mà chúng sinh ấy đã tạo và đã tích luỹ từ vô thuỷ trải qua vô số tiền kiếp cho đến kiếp hiện tại của chúng sinh ấy mà thôi.

Sau khi chúng sinh ấy chết, nếu ác nghiệp có cơ hội cho quả tái sinh kiếp sau thì sinh trong 4 cõi ác giới: Địa ngục, Atula, ngạ quỷ, súc sinh. Bị sinh trong cõi nào, thuộc hạng chúng sinh nào hoàn toàn tuỳ thuộc vào quả của ác nghiệp mà chúng sinh ấy đã từng tạo trong tiền kiếp.

Sau khi chúng sinh ấy chết nếu thiện nghiệp có cơ hội cho quả tái sinh kiếp sau thì sinh trong các cõi thiện giới: Cõi người, 6 cõi trời dục giới, 16 cõi trời sắc giới, 4 cõi trời vô sắc giới. Được sinh trong cõi nào, thuộc hạng chúng sinh nào hoàn toàn tuỳ thuộc vào quả của thiện nghiệp mà chúng sinh ấy đã từng tạo trong tiền kiếp.

Tiêu đề
Hotline hỗ trợ: 093 6041 017
|
Số lượng

 

Trí tuệ siêu việt (Parami) Ngài Hộ Pháp


Trong đời này có 3 hạng người:

1- Hạng người tam nhân là hạng người vốn có đầy đủ 3 nhân: vô tham, vô sân và vô si ( Trí tuệ) từ khi tái sinh đầu thai làm người với đại quả tâm hợp với trí tuệ.

Hạng người tam nhân này vốn có trí tuệ, nên trong kiếp hiện tại là người có khả năng đặc biệt dễ hiểu, dễ biết rõ các pháp cao siêu.

Nếu hạng người tam nhân này thực hành pháp hành thiền định thì có khả năng chứng đắc các bậc thiền hữu sắc, các bậc thiền vô sắc, chứng đắc các phép thần thông.

Nếu hạng người tam nhân này thực hành pháp hành thiền tuệ thì có khả năng chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc Thánh Đạo - Thánh Quả và Niết Bàn, trở thành bậc Thánh nhân trong Phật giáo.

2- Hạng người nhị nhân  là hạng người chỉ có 2 nhân: vô tham và vô sân mà không có vô si (trí tuệ) từ khi tái sinh đầu thai làm người với đại quả tâm không hợp với trí tuệ.

Hạng người nhị nhân này vốn không có trí tuệ, nên trong kiếp hiện tại là người chậm hiểu, không có khả năng hiểu rõ, biết rõ được các pháp cao siêu.

Nếu hạng người nhị nhân này thực hành pháp hành thiền định hoặc thực hành pháp hành thiền tuệ thì không có khả năng chứng đắc các bậc thiền nào, cũng không có khả năng chứng ngộ chân lý tứ Thánh Đế, không chứng đắc Thánh Đạo - Thánh Quả và Niết Bàn nào cả, chỉ được thành tựu những dục giới thiện pháp mà thôi. Cho nên, hạng người nhị nhân này cần phải nên cố gắng tinh tấn thực hành pháp hành thiền định hoặc thực hành pháp hành thiền tuệ và các phước thiện khác, để bồi bổ, tích luỹ các thiện pháp, các pháp hạnh Ba-la-mật làm nhân duyên cho kiếp sau.

3- Hạng người vô nhân  là hạng người không có nhân nào trong 3 nhân (vô tham, vô sân và vô si) từ khi tái sinh đầu thai làm người với quả thiện vô nhân tâm.

Hạng người vô nhân này, trong kiếp hiện tại thường là người đui mù, câm điếc, tật nguyền… từ khi đầu thai làm người. Cho nên, hạng người vô nhân này không có khả năng hiểu biết được các pháp sâu sắc.

Nhưng nếu người nào, sau khi đã tái sinh đầu thai làm người rồi, do ác nghiệp nào cho quả làm cho người ấy bị đui mù, câm điếc, tật nguyền, v.v… thì không thể xác định rằng:

Người ấy thuộc hạng người vô nhân.

Thật vậy, để phân biệt hạng người tam nhân, hạng người nhị nhân, hạng người vô nhân không phải là việc dễ dàng, bởi vì mỗi hạng người này căn cứ vào quả tâm khi làm phận sự tái sinh kiếp sau.

 

Trí tuệ có 3 loại:

1- Trí tuệ phát sinh do nghe chánh pháp của những bậc thiện trí, do học hỏi, đọc sách, nghiên cứu chánh pháp.

2- Trí tuệ phát sinh do suy xét, do tư duy đúng đắn trong chánh pháp.  

3- Trí tuệ phát sinh do thực hành pháp hành thiền định, dẫn đến chứng đắc các bậc thiền hữu sắc, các bậc thiền vô sắc, hoặc trí tuệ phát sinh do thực hành pháp hành thiền tuệ dẫn đến chứng ngộ chân lý tứ Thánh Đế, chứng đắc Thánh Đạo - Thánh Quả và Niết Bàn, trở thành bậc Thánh nhân trong Phật giáo.

Đức Phật dạy 4 nhân duyên để phát sinh trí tuệ trong tam giới cho đến trí tuệ siêu tam giới:

1- Thường gần gũi thân cận với bậc đại thiện trí.

2- Lắng nghe, ghi nhớ lời dạy của bậc đại thiện trí.

3- Hiểu biết đúng theo trạng thái của các pháp hữu vi có trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã, trạng thái bất tịnh.

4- Thực hành đúng theo pháp hành thiền tuệ dẫn đến chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc Thánh Đạo- Thánh Quả và Niết Bàn.

 

Chú giải: Trí tuệ được phát sinh do đủ 3 nhân duyên như sau:

1- Tránh xa người thiểu trí (người dốt)

2- Thường gần gũi thân cận với bậc thiện trí để học hỏi, đàm đạo, v.v…

3- Suy xét, tư duy các pháp như ngũ uẩn , 12 xứ, 18 tự tánh),v.v.. một cách sâu sắc.

Khi hội đủ 3 nhân duyên, trí tuệ chưa phát sinh được phát sinh, trí tuệ đã phát sinh thì càng tăng trưởng.

 

Vai Trò Quan Trọng Của Trí Tuệ

 

Trí tuệ đóng vai trò quan trọng phân chia bậc đại thiện trí theo thứ như sau:

- Trí tuệ của Đức Phật Chánh Đẳng Giác cao thượng hơn trí tuệ của Đức Phật Độc Giác.

- Trí tuệ của Đức Phật Độc Giác cao thượng hơn trí tuệ của bậc Thánh Tối Thượng Thanh Văn Giác.

- Trí tuệ của bậc Thánh Tối Thượng Thanh Văn Giác  cao thượng hơn trí tuệ của bậc Thánh Đại Thanh Văn Giác.

Trí tuệ của bậc Thánh Đại Thanh Văn Giác cao thượng hơn trí tuệ của bậc Thánh A-ra-hán hạng thường.

- Trí tuệ của bậc Thánh A-ra-hán hạng thường cao thượng hơn trí tuệ của bậc Thánh Bất lai.

- Trí tuệ của bậc Thánh Bất lai cao thượng hơn trí tuệ của bậc Thánh Nhất lai.

- Trí tuệ của bậc Thánh Nhất lai cao thượng hơn trí tuệ của bậc Thánh Nhập lưu.

- Trí tuệ của bậc Thánh Nhập lưu cao thượng hơn trí tuệ của bậc thiện trí phàm nhân.

- Trí tuệ của bậc thiện trí phàm nhân cao thượng hơn các hạng phàm nhân thiểu trí, v.v …

 

Trí tuệ đóng vai trò phân hạng các bậc đại thiện trí cao hoặc thấp như vậy. Cho nên, bậc đại thiện trí này có khả năng biết bậc đại thiện trí khác bằng nhau và thấp hơn mình, nhưng không có khả năng biết bậc đại thiện trí cao hơn mình.

Ví dụ: Bậc Thánh Bất Lai có khả năng biết được bậc Thánh Bất lai khác và bậc Thánh Nhất Lai, bậc Thánh Nhập Lưu, nhưng không thể biết đến bậc Thánh A-ra-hán.

Những hạng phàm nhân hoàn toàn tự mình không thể biết được các bậc Thánh Nhân.

Trí tuệ thuộc về danh pháp, nên trong một đám đông có nhiều người, khó biết được ai là bậc đại thiện trí, ai là kẻ thiểu trí. Nếu có ai phát biểu ý kiến của mình, thì bậc thiện trí nhận thức được rằng:

Người ấy là bậc thiện trí hoặc người ấy là kẻ thiểu trí.

Kẻ thiểu trí này không thể biết được các bậc đại thiện trí kể cả các kẻ thiểu trí khác. Cho nên, trí tuệ thật là cao thượng, người có trí tuệ trở thành bậc cao thượng.

 

4 CÂU HỎI CỦA CHƯ THIÊN


 

Đức Vua Vedeha truyền hỏi đức Bồ Tát rằng :

- Này Mahosadha paṇḍita! Thông thường người không có trí tuệ, không có khả năng làm được việc lớn, còn con là bậc đại thiện trí có trí tuệ siêu việt, có tài đức hơn người, nếu cần, con có khả năng chiếm đoạt tất cả ngai vàng trong toàn cõi nam thiện bộ châu này. Đó là điều không khó đối với con, nhưng tại sao con không chiếm đoạt ngai vàng của ta vậy?

 

Đức Bồ Tát Mahosadha paṇḍita tâu rằng:

Tâu Đại Vương, người nào ngồi hoặc nằm dưới bóng mát của cây nào, người ấy không nên bứt lá, bẻ cành của cây ấy, bởi vì, người làm hại bạn là con người ác.

- Tâu Đại Vương, Đại Vương là Đức Phụ Vương của con, nuôi dưỡng con, ban địa vị cao quý cho con. Đại Vương là bậc đại ân nhân của đời con, sao con dám nghĩ ác đến Đức Phụ Vương được, còn làm hại Đức Phụ Vương thì điều đó chắc chắn không bao giờ xảy ra được.

Ngài tâu tiếp rằng:

- Tâu Đại Vương,

* Người sống tại gia hưởng sự an lạc mà lười biếng. Đó là điều không tốt.

* Bậc xuất gia mà không biết thu thúc lục căn thanh tịnh. Đó là điều không tốt.

* Bậc thiện trí mà phát sinh tâm sân. Đó là điều không tốt.

* Đức Vua không suy xét kỹ trước mà truyền lệnh. Đó là điều không tốt.

* Đức Vua anh minh sáng suốt, chưa suy xét kỹ thì chưa truyền lệnh, khi đã suy xét kỹ trước rồi mới truyền lệnh. Đó là điều tốt. Các quan, quân cho đến thần dân thiên hạ đều cảm phục, đều nương nhờ nơi Đức Vua ấy.

Nghe Đức Bồ Tát Mahosadha paṇḍita thuyết giảng như vậy, Đức Vua Vedeha vô cùng hoan hỷ tán dương ca tụng trí tuệ siêu việt của Ngài.

 

4 Câu Hỏi Của Chư Thiên

 

Sau khi nghe Đức Bồ Tát  tâu như vậy xong, Đức Vua Vedeha mời Ngài lên ngồi trên ngai vàng, dưới chiếc lọng trắng. Còn Đức Vua ngồi một nơi hợp lẽ, truyền hỏi rằng:

- Này Hoàng nhi  yêu quý! Vị chư thiên ngự tại chiếc lọng trắng hiện ra, tâu hỏi Đức Phụ Vương 4 câu hỏi, nhưng Đức Phụ Vương không hiểu 4 câu hỏi ấy, và 4 vị quân sư cũng hoàn toàn không hiểu nổi. Nay Đức Phụ Vương nhờ con giải đáp 4 câu hỏi ấy của vị chư thiên.

Nghe Đức Vua Vedeha truyền bảo như vậy, Đức Bồ Tát tâu rằng:

- Tâu Đức Phụ Vương, vị chư thiên tâu hỏi 4 câu hỏi với Đức Phụ Vương như thế nào, kính xin Đức Phụ Vương nhắc lại.

 

 * Đức Vua Vedeha nhắc lại câu hỏi thứ nhất của chư thiên tâu rằng:

1- Ai là người đánh vào thân hình người khác bằng đôi tay hoặc đạp bằng đôi chân, lấy đôi tay vả vào miệng người khác. Người ấy lại là người yêu quý nhất của người bị đánh. Người yêu quý nhất ấy là ai vậy?

Vừa nghe qua câu hỏi, Đức Bồ Tát hiểu rõ ràng ý nghĩa của câu hỏi như vầng trăng sáng hiện trên bầu trời trong, nên Ngài tâu rằng:

- Tâu Đức Phụ Vương, khi nào một đứa con thơ dại yêu quý nằm trên đùi của người mẹ, nó vui mừng, cười giỡn, đánh vào thân hình người mẹ bằng đôi tay hoặc đạp bằng đôi chân, hoặc vả trên miệng người mẹ bằng đôi tay, khi ấy, người mẹ nói với đứa con yêu quý ấy với tình thương yêu vô hạn như là: “Ô! đứa con ngỗ nghịch! con dám đánh, đạp mẹ như thế này sao!” Nói xong, người mẹ không ngăn được tình thương yêu vô hạn đối với đứa con yêu quý, nên ẵm đứa con áp sát vào ngực, hôn trên đầu đứa con nhỏ.

- Tâu Đức Phụ Vương, người được thương yêu nhất của người bị đánh ấy là đứa con thơ dại yêu quý của người mẹ hiền (cũng như của người cha hiền).

Nghe Đức Bồ Tát giải đáp câu hỏi thứ nhất xong, vị chư thiên từ chiếc lọng trắng hiện ra một nửa thân mình bên trên, chắp tay nói lời Sādhu! Sādhu! Sādhu! Lành thay! rồi tán dương ca tụng rằng:

- Ô! bậc đại thiện trí Mahosadha paṇḍita giải đáp câu hỏi thứ nhất đúng rồi!

Vị chư thiên cúng dường đến Đức Bồ Tát Mahosadha paṇḍita bằng những đóa hoa trời, vật thơm rồi biến mất.

Đức Vua Vedeha vô cùng hoan hỷ cúng dường đến Đức Bồ Tát những phẩm vật quý giá, rồi khẩn khoản Đức Bồ Tát giải đáp câu hỏi tiếp.  

 

* Đức Vua Vedeha nhắc lại câu hỏi thứ nhì của chư thiên rằng:

2- Người chửi rủa, mắng nhiếc người khác một cách thỏa mãn, nhưng hoàn toàn không muốn cho người bị chửi rủa, mắng nhiếc ấy phải bị tai họa nào cả, bởi vì người bị chửi rủa, mắng nhiếc là người thương yêu nhất của người chửi rủa, mắng nhiếc. Vậy người bị chửi rủa, mắng nhiếc ấy là ai vậy?

Đức Bồ Tát tâu rằng:

- Tâu Đức Phụ Vương, khi nào người mẹ bảo đứa con lên 7-8 tuổi của mình đang chơi đùa với chúng bạn rằng: “Này con yêu quý của mẹ! con hãy đi đến nhà bà dì mượn cái ấy đem về cho mẹ, mau đi con!”

Đứa bé thưa với mẹ rằng: “Thưa mẹ, con đói bụng, mẹ cho con ăn trước, rồi con sẽ đi”.

Nghe con đói bụng, người mẹ đem đồ ăn, đồ uống cho con. Ăn uống no đủ người con lại ham chơi với chúng bạn mà không đi đến nhà bà dì mượn đồ như lời người mẹ bảo. Khi ấy, người mẹ nổi cơn giận dữ, chửi rủa, mắng nhiếc người con rằng: “Ê! Tên lừa dối mẹ! cho ăn rồi không chịu đi à!”

Đứa con cười thích thú, bỏ chạy. Nhìn thấy đứa con yêu quý của mình bỏ chạy, người mẹ bực mình, cầm roi, đuổi theo không kịp đứa con, nên bà chửi rủa, mắng nhiếc rằng: “Ê! Tên lừa dối mẹ! Đồ ăn hại! Hãy đứng lại!” Sợ mẹ đánh, đứa con chạy trốn mất. Người mẹ bực tức nên chửi rủa, mắng nhiếc thậm tệ rằng: “Mày chạy gặp trâu, bò húc mày!…” Bởi vì người mẹ quá bực tức đứa con yêu quý của mình, nên thốt lên như vậy, nhưng bà mẹ lại hoàn toàn không muốn đứa con nhỏ yêu quý của mình gặp phải điều tai hại nào cả.

Không thấy đứa con yêu quý trở về nhà, người mẹ nhớ con, khổ tâm, đi tìm con mình. Khi đến nhà ông bà ngoại của con, thì đứa con chạy đến với mẹ, người mẹ ôm đứa con yêu quý vào lòng, hôn trên đầu con mà nói rằng: “Con yêu quý của mẹ! Mẹ thương yêu con lắm! mẹ bực tức, chửi rủa, mắng nhiếc vậy thôi. Thật ra, mẹ rất thương yêu con, con là trái tim, là đôi mắt của mẹ, mẹ luôn luôn bảo vệ con, không để mọi điều rủi ro, tai hại xảy đến với con”.

- Tâu Đức Phụ Vương, người bị chửi rủa, mắng nhiếc một cách thậm tệ, nhưng người chửi hoàn toàn không muốn người bị chửi rủa, mắng nhiếc ấy gặp phải điều rủi ro, tai hại nào. Đó là đứa con yêu quý của người mẹ trong cơn bực tức.

Nghe Đức Bồ Tát giải đáp câu hỏi thứ nhì xong, vị chư thiên từ chiếc lọng trắng hiện ra một nửa thân mình bên trên, chắp tay nói lời Sādhu! Sādhu! Lành thay! rồi tán dương ca tụng, cúng dường những phẩm vật quý giá của cõi trời đến Ngài rồi biến mất.

Đức Vua Vedeha vô cùng hoan hỷ cúng dường đến Đức Bồ Tát Mahosadha paṇḍita những phẩm vật quý giá, rồi khẩn khoản Ngài giải đáp câu hỏi tiếp theo.  

 

* Đức Vua Vedeha nhắc lại câu hỏi thứ ba của chư thiên rằng:

3- Những người nào vu cáo lẫn nhau, không có chứng cớ, những người ấy lại là những người yêu quý lẫn nhau. Những người ấy là ai vậy?

Đức Bồ Tát giải đáp câu hỏi thứ ba rằng:

- Tâu Đức Phụ Vương, khi nào 2 vợ chồng ở nơi kín đáo, ái ân đùa cợt với nhau với tình thương yêu tha thiết trong đời. Khi ấy, 2 người này vu cáo lẫn nhau bằng lời không thật rằng: “Anh có thương yêu gì em đâu! hoặc Em có thương yêu gì anh đâu!”

 Buộc tội lẫn nhau không có chứng cớ rằng:“ Tâm của

 anh đang nghĩ đến ai khác, không còn nghĩ đến em nữa! hoặc Tâm của em đang nghĩ đến ai khác, không còn nghĩ đến anh nữa!” Khi ấy, 2 vợ chồng thương yêu, ân ái, thắm thiết hơn bao giờ hết.

Tâu Đức Phụ Vương, đó là 2 vợ chồng đang thương yêu nhau, ân ái thắm thiết với nhau nơi kín đáo.

Nghe Đức Bồ Tát giải đáp câu hỏi thứ ba xong, vị chư thiên từ chiếc lọng trắng hiện ra một nửa thân mình bên trên, chắp tay nói lời Sādhu! Sādhu! Lành thay! rồi tán dương ca tụng, cúng dường những phẩm vật quý giá của cõi trời đến Ngài rồi biến mất.

Đức Vua Vedeha vô cùng hoan hỷ cúng dường đến Đức Bồ Tát những phẩm vật quý giá, rồi khẩn khoản Ngài giải đáp câu hỏi tiếp theo.

 

* Đức Vua Vedeha nhắc lại câu hỏi thứ tư của chư thiên rằng:

4- Những người nào đến thọ nhận y phục, vật thực, chỗ ở, thuốc trị bệnh,… những người thọ nhận vật dụng ấy gọi là nhận hợp pháp, được người bố thí tôn kính. Những người ấy là ai vậy?

Đức Bồ Tát giải đáp câu hỏi thứ tư rằng:

- Tâu Đức Phụ Vương, câu hỏi thứ tư của vị chư thiên đề cập đến chư Sa-môn, chư Bà-la-môn, bậc hành phạm hạnh cao thượng.

Thật vậy, những người nào có đức tin nơi nghiệp và quả của nghiệp, muốn tạo những phước thiện bố thí, cúng dường y phục, vật thực, chỗ ở, thuốc trị bệnh, … đến chư Sa-môn, chư Bà-la-môn, bậc hành phạm hạnh cao thượng. Cho nên, những bậc Sa-môn, bậc Bà-la-môn ấy thọ nhận y phục, vật thực, chỗ ở, thuốc trị bệnh,… của thí chủ gọi là thọ nhận hợp pháp, được những thí chủ tôn kính. Bởi vì những người thí chủ có được cơ hội tạo được những phước thiện bố thí cao quý, cho quả báu an lạc trong kiếp hiện tại và những kiếp vị lai.

Tâu Đức Phụ Vương, đó là chư Sa-môn, chư Bà-la-môn thọ nhận vật dụng hợp pháp, được những người thí chủ ấy tôn kính nhất.

Nghe Đức Bồ Tát giải đáp câu hỏi thứ tư xong, vị chư thiên từ chiếc lọng trắng hiện ra một nửa thân mình bên trên, chắp tay nói lời Sādhu! Sādhu! Lành thay! rồi tán dương ca tụng, cúng dường hộp đầy thất báu đặt dưới chân của Ngài rồi biến mất.

Khi ấy, Đức Vua Vedeha vô cùng hoan hỷ phát sinh đức tin trong sạch nơi Đức Bồ Tát Mahosadha paṇḍita, tán dương, ca tụng trí tuệ siêu việt của Ngài, và không còn lo sợ lời hăm dọa của vị chư thiên nữa.

Đức Vua hoan hỷ cúng dường đến Ngài nhiều phẩm vật quý giá, đặc biệt nhất, ban chức vị cao nhất: Chức quan Senāpati: Chức quan Thừa tướng đứng đầu trong triều đình cho Ngài ngay khi ấy. 

 

 

ĐÁNH GIÁ SẢN PHẨM

Sản phẩm đã xem

0₫ 0₫
Facebook Instagram Youtube Top