} catch (e) {}; //]]>
Giỏ hàng

Pháp Môn Niệm Ân Đức Phật

Thương hiệu: Khác
|
49,000₫

Tên Sách:

Tác Giả:

Thể Loại:

Tiêu đề
Hotline hỗ trợ: 093 6041 017
|
Số lượng

Pháp môn Niệm Ân Đức Phật

Đức Phật dạy rằng:”

“- Này chư Tỳ khưu! Pháp hành niệm 9 Ân Đức Phật, mà hành giả đã thực hành, đã thuần thục, chắc chắc dẫn đến phát sinh sự nhàm chán trong ngũ uẩn, danh pháp, sắc pháp, để diệt tận tham ái, sân hận, si mê, để làm vắng lặng mọi phiền não, để phát sinh trí tuệ thiền tuệ, thấy rõ trạng thái vô thường, trạng thái khổ, trạng thái vô ngã, dẫn đến chứng ngộ chân lý Tứ Thánh Đế, chứng đắc Tứ thánh đạo, tứ thánh quả và Niết Bàn.”

4 đề mục thiền định là:

1.Đề mục niệm 9 Ân Đức Phật là một đề mục thiề định dễ phát sinh đức tin trong sạch nơi Tam Bảo: 9 Ân Đức Phật bảo, 6 Ân Đức Pháp bảo, 9 Ân Đức Tăng bảo, tin nghiệp và quả của nghiệp, mà đức tin là nền tảng cho mọi thiện pháp phát sinh và tăng trưởng như là dục giới thiện pháp, sắc giới thiện pháp, vô sắc giới thiện pháp, cho đến siêu tam giới thiện pháp đó là 4 Thánh đạo tâm.

  1. Đề mục niểm rải tâm từ: Là để mục thiền định làm cho thân tâm của mình được an lạc và tất cả các chúng sinh khác cũng được an lạc, nên tránh khỏi những tai hại, trở ngại không xảy ra, hành giả được thuận lợi thực hành pháp hành thiền định, pháp hành thiền tuệ.

3.Đề mục niệm về sự chết: Là đề mục thiền định nhắc nhở hành giả rằng: “ Sự chết là điều chắc chắc sẽ đến với mình, nhưng biết chắc lúc nào” khiến cho hành giả không dám thất niệm lười biếng, mà cố gắng tinh tấn không ngừng thực hành pháp hành tiền tuệ để mong giải thoát khổ tử sinh luân hồi trong 3 giới 4 loài.

  1. Đề mục niệm 32 thể trọc trong thân của mình là đề mục thiền định niệm tưởng 32 thể trọc trong thân mình là bất tịnh, thật đáng ghê tởm, nên diệt tâm tham ái bên trong của mình không cho phát sinh, đồng thời cũng không phát sinh tham ái bên ngoài đối với người khác, chúng sinh khác, để thuận lợi thực hành pháp hành thiền định, pháp hành thiền tuệ.

Vì vậy, 4 đề mục thiền định này là đề mục cơ bản hỗ trợ cho hành giả thực hành pháp hành thiền định và thực hành pháp hành thiền tuệ được phát triển tốt.

 

QUẢ BÁU CỦA VIỆC THỰC HÀNH ĐỀ MỤC NIỆM 9 ÂN ĐỨC PHẬT

1.Con sẽ hưởng mọi sự an lạc trong cõi trời suốt 30.000 đại kiếp trái đất.

2.Con sẽ là Đức vua Trời 80 kiếp

  1. Con sẽ là Đức vua chuyển luân thánh vương trong cõi người 1000 kiếp
  2. Con Sẽ là Đức Vua trong nước lớn không sao kể xiết.
  3. Những kiếp tử sinh luân hồi của con không hệ bị sinh trong 4 cõi ác giới: địa ngục, a-tu-la, ngạ quỷ, súc sinh, mà chỉ có tái sinh làm kiếp cao quý, có quyền coa chức trọng, giàu sang phú quý mà thôi.

Đó là quả báu của đề mục niệm 9 Ân Đức Phật.

Đề mục niệm 9 Ân Đức Phật là đề mục thiền định chỉ có trong Phật Giáo mà thôi, hoàn toàn không có ngoài Phật Giáo. Người nào có đức tin trong sạch nơi Đức Phật dù chỉ niệm tưởng đến Ân Đức Phật trong khoảnh khắc, cũng có quả báu rất kỳ diệu.

PHƯƠNG PHÁP NIỆM 9 ÂN ĐỨC PHẬT BẰNG XÂU CHUỖI 108 HẠT.

                        “Tâm niệm mỗi âm, tay lần theo mỗi hạt”

Theo phương pháp  này, Ngài Đại Trưởng lão Myanmar đã phát hiện ra trong 9 Ân Đức Phật gồm có 108 âm tương ứng với 108 hạt trong xâu chuỗi.

Mỗi âm trong mỗi Ân Đức Phật lại tương ứng với một vị trí có số thứ tự nhất định trong xâu chuỗi 108 hạt, cho nên âm thứ nhất và âm cuối cùng thứ 108 của 9 Ân Đức Phật nhằm vào hạt thứ nhất và hạt cuối cùng thứ 108 trong xâu chuỗi, không dư không thiếu.

Như vậy, âm cuối của mỗi Ân Đức Phật có một số thứ tự nên làm hột lớn hơn trong xâu chuỗi 108 hạt, để khi tay lẫn mỗi hạt dễ nhận biết âm cuối của mỗi Ân Đức Phật đó.

Trong 40 đề mục thiền định không có đề mục nào có khả năng kiểm soát và biết được ngay khi phóng tâm, nhưng với phương pháp “ tâm niệm mỗi âm, tay lần theo mỗi hạt” này, hành giả có khả năng biết liền ngay, bởi vì tay lần đến âm cuối cùng của mỗi Ân Đức Phật ấy không nhằm đúng vị trí thứ tự hạt lớn. Đó chính là tính chất ưu việt của phương pháp này.

Đức Phật dạy rằng:

 -Này chư Tỳ khưu! Như Lai dạy các con rằng: nếu có sự kinh hãi, sự run sợ, sự rung mình rởn tóc gáy phát sinh đối với các con, ở trong rừng sâu, dưới cội cây, nơi thanh vắng, thì khi ấy các con chỉ nên niệm 9 Ân Đức Phật rằng:

“Itipi so Bhagavā Arahaṃ, Sammāsambuddho, Vijjācaraṇasampanno, Sugato, Lokavidū, Anuttaro purisadammasāratthi, Satthādevamanussānaṃ, Buddho, Bhagavā”

Ý NGHĨA 9 ÂN ĐỨC PHẬT 

  1. ARAHAN
    Đức Thế Tôn có ân đức Arahan là Đức Arahan có thân khẩu ý hoàn toàn trong sạch thanh tịnh, xứng đáng thọ nhận sự lễ bái cúng dường của Chư Thiên, Phạm Thiên, nhân loại.
  2. SAMMASAMBUDDHO
    Đức Thế Tôn có ân đức Sammasambuddho là Đức Phật Chánh Đẳng Giác tự mình chứng ngộ chân lý tứ Thánh Đế, không thầy chỉ dậy, chứng đắc tứ thánh Đạo, tứ Thánh Quả và Niết Bàn, diệt đoạn tuyệt mọi phiền não, mọi tham ái không còn dư sót, đặc biệt diệt được mọi tiền khiên tật, trở thành Arahan đầu tiên trong toàn thể cõi thế giới chúng sinh, gọi là Đức Phật Chánh Đẳng Giác độc nhất vô nhị
  3. VIJJACARANASAMPANNO
    Đức Thế Tôn có Ân Đức Vijjacaranasampano là Đức Minh Hạnh Túc có đầy đủ Tam minh, Bát minh, và 15 đức hạnh cao thượng.

4.SUGATO
Đức Thế Tôn có Ân Đức Sugato là Đức Thiện Ngôn thuyết Pháp chân lý chắc chắn đem lại sự lợi ích, sự tiến hóa, sự an lạc lâu dài thật sự trong kiếp hiện tại và vô số kiếp vị lai cho tất cả chúng sinh.

  1. LOKAVIDU
    Đức Thế Tôn có ân đức Lokavidu là Đức Thông Suốt Tam tổng pháp ( tổng các loài chúng sinh ( Sattaloka), tổng các cõi chúng sinh ( okasaloka), tổng các pháp hành ( sankharaloka)
  2. ANUTTARO PURISADAMMASARATHI
    Đức Thế Tôn có Ân Đức Anuttaropurisadammasarathi là Đức Vô Thương Giáo Hóa chúng sinh cải tà quy chính, bỏ ác làm thiện, từ hạng phàm nhân trở thành Thánh nhân.
  3. SATTHA DEVAMANUSSANAM
    Đức Thế Tôn có Ân Đức Sattha Devamanussanam là Đức Thiên nhân sư, Đức Thầy của Chư Thiên, Phạm Thiên và nhân loại.
  4. BUDDHO
    Đức Thế Tôn có Ân Đức Buddho là Đức Phật tự mình chứng ngộ chân lý tứ Thánh Đế, không thầy chỉ dạy, chứng đắc tứ Thánh đạo, tứ thánh quả và Niết Bàn, diệt đoạn tuyệt mọi phiền não, mọi tham ái không còn dư sót, trở thành bậc Thánh Arahan đầu tiên trong toàn cõi thế giới chúng sinh, gọi là Đức Phật Chánh Đẳng Giác độc nhất vô nhị.

Đức phật thuyết pháp giáo huấn chúng sinh có duyên lành cũng chứng ngộ chân lý tứ Thánh Đế y theo Ngài, cũng chứng đắc Thánh Đạo, Thánh quả và Niết Bàn, trở Thánh Nhập Lưu, hoặc bậc Thánh Nhất Lai, hoặc bậc Thánh Bất Lai, hoặc bậc Thánh Arahan tùy theo năng lực các pháp hạnh Ba la mật và 5 pháp chủ của mỗi chúng sinh.

  1. BHAGAWA
    Đức Thế Tôn có ân đức Bhagawa là Đức Thế Tôn có 6 Đức hạnh đặc biệt do đầy đủ trọn vẹn 30 pháp hạnh Ba la mật của Đứ Phật Chánh Đẳng Giác.

9 Ân Đức Phật này chỉ có nơi chư Phật Chánh Đẳng Giác mà thôi. Ngoài chư Phật ấy ra, chư Phật Độc giác, Sa môn hoặc Bà Là Môn hoặc Chư Thiên, hoặc chư Phạm Thiên không có vị nào có đầy đủ 9 ân Đức Phật này.

Thật vậy, chư Phật Chánh Đẳng Giác quá khứ, Đức Phật Chánh Đẳng Giác hiện tại, chư Phật Chánh Đẳng Giác vị lai đều có đầy đủ 9 ân Đức Phật này.
(Trích Pháp Môn niệm Ân Đức Phật - Ngài Hộ Pháp)

GIẢNG GIẢI VỀ 9 ÂN ĐỨC PHẬT

  1. Ân Đức Phật Arahaṃ

“Itipi so Bhagavā Arahaṃ

-So Bhagavā: Đức Thế Tôn

-Itipi: Bởi Ngài là bậc Thánh Arahan cao thượng có thân khẩu ý hoàn toàn trong sạch và thanh tịnh, xứng đáng thọ nhận sự lễ bái cúng dường của nhân loại, Chư Thiên, Phạm Thiên…

- Arahaṃ: Do đó Đức Thế Tôn có Ân Đức Arahaṃ

Arahaṃ có 5 ý nghĩa:

- Arahaṃ có nghĩa là xứng đạng thọ nhận sự lễ bái cúng dường.

- Arahaṃ có nghĩa là đã xa lìa vĩnh viễn mọi phiền não.

- Arahaṃ có nghĩa là đã đoạn tuyệt mọi kẻ thù là phiền não.

- Arahaṃ có nghĩa là đã phá hủy vòng luân hồi trong 3 giới 4 loài.

- Arahaṃ có nghĩa là không bao giờ làm điều ác ở nơi kín đáo.

GiẢI THÍCH

  1. Arahaṃ có nghĩa bậc xứng đáng thọ nhận sự lễ bái cúng dường như thế nào?

Đức Thế Tôn là Bậc Tối Thượng độc nhất vô nhị, trong muôn ngàn thế giới chúng sinh.

Thật vậy, Đức Thế Tôn có đầy đủ 5 đức: giới đức, định đức, tuệ đức, giải thoát đức, giải thoát tri kiến đước hoàn toàn trong sạch thanh tịnh.

Ngoài đức thế tôn ra, trong toàn thể chúng sinh không có một người nào, một Sa môn, Bà la môn, Chư Thiên, Phạm thiên…nào có đầy đủ 5 đức ấy như Ngài.

Chỉ có Đức Thế Tôn mới có đầy đủ 5 đức ấy mà thôi, cho nên, Đức Thế Tôn là Bậc Tối Thượng nhất trong toàn thể chúng sinh, là bậc xứng đáng cho chúng sinh lễ bái cúng dường. Chúng sinh lễ bái cúng dường rồi, sẽ được quả báu lớn, sự lợi ích lớn, sự tiến hóa cao thượng, sự an lạc cao thượng lâu dài. Như Đức Phật dạy:

-Này, chư Tỳ Khưu! Bậc cao thượng độc nhất khi xuất hiện trên thế gian, để đêm lại sự lợi ích, sự tiến hóa, sự an lạc lâu dài cho phần đông chúng sinh, để tế độ chúng sinh, nhân loại, Chư Thiên, Phạm Thiên, Bậc Tối Thượng độc nhất ấy là ai?

Bậc Tối Thượng độc nhất ấy chính là Như Lai, Đức Arahaṃ, Đức Phật Chánh Đẳng Giác

-Này chư Tỳ Khưu! Như Lai là Bậc tối thượng độc nhất, khi xuất hiện trên thế gian, để đem lại sự lợi ích, sự tiến hóa, sự an lạc lâu dài cho phần đông chúng sinh, nhân loại, Chư Thiên, Phạm Thiên.

  1. Arahaṃ có nghĩa xa lìa vĩnh viễn mọi phiền não là thế nào?

*Tham là tham tâm sở đồng sinh với 8 tham tâm có trạng thái tham muốn, hài lòng trong đối tượng.

*Sân là sân tâm sở đồng sinh với 2 sân tâm có trạng thái hung dữ, tàn bạo, không hài lòng trong đối tượng.

*Si là si tâm sở đồng sinh với 12 bất thiện tâm có trạng thái si mê, không biết thật tánh của các pháp

*Tà kiến là tà kiến tâm sở đồng sinh với 4 tham tâm hợp với tà kiến có trạng thái thấy sai, chấp lầm nơi đối tượng.

*Ngã mạn: Là ngã mạn tâm sở đồng sinh với 4 tham tâm không hợp với tà kiến, có trạng thái so mình với người. Hơn người, bằng người, kém thua người.

*Hoài nghi: là hoài nghi tâm sở đồng sinh với si tâm hợp với hoài nghi, có trạng thái hoài nghi nơi đối tượng.

* Buồn chán là buồn chán tâm sở đồng sinh với 4 tham tâm và 1 sân tâm gồm có 5 bất thiện tâm cần tác động, có trạng thái không hăng hái, buông bỏ đối tượng.

* Phóng tâm là phóng tâm tâm sở đồng sinh với 12 bất thiện tâm, có trạng thái không an trụ nơi đối tượng.

*Không biết hổ thẹn: là không biết hổ thẹn tâm sở đồng sinh với 12 bất thiện tâm, có trạng thái tự mình không biết hổ thẹn tội lỗi khi hành ác.

*Không biết ghê sợ là không biết ghê sợ tâm sở đồng sinh với 12 bất thiện tâm, có trạng thái không biết ghê sợ tội lỗi, khi hành ác.

Đó là 10 loại phiền não, mỗi khi có phiền não phát sinh ở bất thiện tâm nào, thì không những làm cho tâm bị ô nhiễm, nóng nảy, mà còn làm cho thân cũng nóng nảy, khó chịu, mặt mày mất vẻ tự nhiên.

Tính chất của phiền não có 3 loại:

*Vitikkamakilesa là phiền não loại thô, được biểu hiện ra ở thân hành ác, khẩu nói ác. Phiền não loại thô này có thể diệt bằng pháp hành giới.

Hành giả có tác ý thiện tâm tránh xa mọi hành ác, giữ gìn giới cho thân và khẩu được trong sạch thì diệt từng thời phiền não loại thô này.

*Pariyutthanakilesa là phiền não loại trung phát sinh ở trong tâm, đó là 5 pháp chướng ngại, làm cho tâm cảm thấy khó chịu, khổ tâm, ngăn cản mọi thiện pháp.

Phiền não loại trung này có khả năng diệt bằng pháp hành thiền định.

Khi hành giả chứng đắc đệ nhất thiền sắc giới, nhờ có 5 chi thiền có khả năng diệt bằng cách chế ngự được phiền não.

*Anusayakilesa là phiền não cực kỳ vi tế ẩn tang ngấm ngầm trong tâm thức, đó là 7 pháp phiền não ngủ ngầm trong tâm không hiện rõ. Phiền não cực kỳ vi tế này có thể diệt bằng pháp hành thiền tuệ.

Phiền não rộng có 1500 loại:

Khi loại phiền não kể trên liên quan đến đối tượng làm nhân duyên để phát sinh phiền não, tính rộng có 1.500 loại phiền não.

Cách tính như sau:

75 pháp có thể làm đối tượng của phiền não:

-Tâm tính là 1 pháp vì cùng có 1 trạng thái biết đối tượng.

-Tâm sở tính là 52 pháp ( mỗi tâm sở có mỗi trạng thái riêng biệt)

-Sắc Pháp chỉ có 18 sắc pháp hiện hữu thật rõ ràng, và 4 pháp trạng thái của sắc pháp.

Như vậy gồm có ( 1+52+18+4) = 75 pháp có thể làm đối tượng của phiền não.

75 pháp này là đối tượng của phiền não trong mình, là kẻ thù bên trong.

75 pháp này cũng là đối tượng của phiền não bên ngoài mình, là kẻ thù bên ngoài.

Đối tượng của phiền não bên trong mình có 75 pháp và bên ngoài mình có 75 pháp gồm cả thảy 150 pháp, nhân với 10 loại phiền não ( tham, sân, si, tà kiến, ngã mạn, hoài nghi, buồn chán, phóng tâm, không biết hổ thẹn, không biết ghê sợ) thành 1.500 loại phiền não.

Thật ra 10 loại phiền não trong bất thiện tâm mới làm cho tâm bị ô nhiễm, làm cho tâm nóng nảy, khó chịu, khổ tâm, khổ thân.

Phiền não làm nhân duyên trực tiếp tạo mọi ác nghiệp, làm nhân duyên gián tiếp tạo mọi thiện nghiệp trong tam giới ( do vô mình nên tạo ác nghiệp, thiện nghiệp) để rồi cho quả của nghiệp, dẫn dắt trong vòng tử sinh luân hồi trong 3 giới 4 loài.

Nghiệp này bị dẫn dắt cho quả tái sinh kiếp sau do bởi tham ái.

Tham ái đó là tham tâm sở gồm 108 loại: Cách tính như sau: theo 3 tính chất, 6 đối tượng, 2 bên, 3 thời như sau:

3 tính chất của tham ái.

-Dục ái: tham ái trong 6 đối tượng, sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.

-Hữu ái: Tham ái trong 6 đối tượng hợp với thường kiến và tham ái trong thiền sắc giới, thiền vô sắc giới, trong cõi sắc giới, cõi vô sắc giới.

-Phi hữu ái: Tham ái trong 6 đối tượng hợp với đoạn kiến.

6 đối tượng của tham ái?

1.Sắc ái: Sắc đẹp là đối tượng của tham ái

  1. Thanh ái: Thanh là đối tượng của tham ái
  2. Hương ái: Hương thơm là đối tượng của tham ái.
  3. Vị ái: Vị ngon là đối tượng của tham ái
  4. Xúc ái: Xúc êm là đối tượng của tham ái.
  5. Pháp ái: Pháp vừa lòng là đối tượng của tham ái.

*2 Bên

Bên trong: tham ái phát sinh bên trong tâm của mình.

Bên ngoài: Tham ái phát sinh bên ngoài mình ( của người khác)

*3 Thời:

Thời quá khứ: Tham ái đã phát sinh trong thời quá khứ

Thời hiện tại: Tham ái đã phát sinh trong thời hiện tại

Thời vị lai: tham ái sẽ phát sinh trong thời vị lai

Như vậy, tham ái có 3 tính chất nhân với 6 đối tượng, nhân với 2 bên, nhân với 3 thời ( 3x6x2x3) = 108 loại tham ái là nhân sinh khổ đế.

*Đức Bồ Tát Siddhattha chứng ngộ chân lý tứ Thánh Đế đầu tiên, không thày chỉ dạy, chứng đắc 4 Thánh Đạo, 4 Thánh Quả và Niết Bàn, diệt đoạn tuyệt được tất cả 1.500 loại phiền não, 108 loại thuam ái không còn dư sót, đạc biệt diệt được mọi tiền khiên tật do tích lũy từ vô số kiếp ở quá khứ tại dưới cội Đại Bồ Đề, vào canh chót đêm rằm tháng 4 âm lịch, trở thành bậc Arahan đầu tiên trong toàn thể cõi thế giới chúng sinh gọi là Đức Phật Chánh Đẳng Giác có danh hiệu là Đức Phật Gotama, độc nhất vô nhị.

Vì vậy Đức Thế Tôn có Ân Đức Araham, với ý nghĩa xa lìa vĩnh viễn mọi phiền não, mọi tham ái và tiền khiên tật.

 

 

ĐÁNH GIÁ SẢN PHẨM

Sản phẩm đã xem

0₫ 0₫
Facebook Instagram Youtube Top