} catch (e) {}; //]]>
Giỏ hàng

Những Suy Nghĩ Của Tâm

Thương hiệu: Khác
|
0₫

Tên Sách: Những Suy Nghĩ Của Tâm

Tác Giả: 

Thể Loại: 

Tiêu đề
Hotline hỗ trợ: 093 6041 017
|
Số lượng

Những Suy Nghĩ Của Tâm

NHỮNG SUY NGHĨ CỦA TÂM

Bhaddanta Nandamalabhivamsa

 

Hồi Hướng

Nguyện cho tất cả chúng sanh,

Cùng chí trọn vẹn phước lành

nơi đây.

Nguyện cho tất cả từ đây,

Luôn luôn an lạc, duyên may

mọi miền.

 

Nguyện xin chư vị long thiên,

Trên trời dưới đất oai thiêng

phép màu.

Đồng chia công đức dày sâu,

Hộ trì Phật Pháp, bên lâu

muôn đời.

Nguyện cho phước báu thanh cao này sẽ là pháp duyên lành làm tiêu tan mọi phiền não ngủ ngầm nơi tâm trong ngày vị lại.

 

NHỮNG SUY NGHĨ CỦA TÂM

(Sayadaw Nandamalabhivamsa)

   Nếu nhìn tựa đề Những SUY NGHĨ của TÂM, chúng ta sẽ thấy được: tâm và suy nghĩ, cả hai mang những phận sự riêng biệt khác nhau. Tâm riêng, suy nghĩ riêng, rất rõ ràng. Mọi người thường nghĩ rằng tâm và suy nghĩ là giống nhau, nhưng nếu phân tích kỹ theo vi diệu pháp (abhidhamma) thì chúng ta có thể hiểu rằng :Tâm (Citta) có khả năng biết cảnh là một pháp, còn sở hữu tâm (cetasika) dựa vào tâm mà sinh khởi là một pháp tự nhiên khác. Ở trong cụm từ SUY NGHĨ CỦA TÂM này, chúng ta cần ghi nhó rằng: suy nghĩ ở đây chính là tên gọi của một sở hữu tâm( tâm sở- cetassika).

   Không phải tâm làm nhiệm vụ suy nghĩ. Trong ngôn ngữ Pali, một từ có liên hệ gần nhất với các từ nghĩ ngợi là từ Vitakka. Ta từng nghe các cụ già bảo nhau: đêm qua nghĩ ngợi nhiều quá, ngủ chẳng ngon lành gì. Vitaka (vitakka) ở đây là những suy nghĩ, trong Bát Chánh Đạo có Chánh Tư Duy (sammasankappa). Sankappa cũng là suy nghĩ, nhưng là suy nghĩ chân chánh, suy nghĩ đúng đắn (Sammasankapppa).

   Sankappa với vitakka tuy từ ngữ không giống nhau nhưng về thực tánh pháp cũng chỉ là một. Cũng chỉ là suy tư. Qúy Sư chúng tôi cũng có suy tư vậy. Như vậy chúng ta cần phải phân biệt để biết được tâm và suy nghĩ là hai cái hoàn toàn khác nhau.

   Khi làm trong sạch và thanh tịnh tâm, một số người thì cần phòng hộ kiểm soát tâm, số người khác thì cần làm việc với các suy nghĩ để cho năng lực tâm lớn mạnh. Tuy nhiên chúng ta cần phải biết một điều rằng:” Không phải mọi tâm đều có suy nghĩ.” Nhiều người có thể sẽ hoài nghi khi nghe đến tâm không có suy nghĩ, “tâm thì phải có suy nghĩ chứ, làm sao mà có tâm lại không có suy nghĩ được.”

 

   TÂM KHÔNG CÓ SUY NGHĨ

   Tuy nhiên trong abhihamma (vi diệu pháp), có tâm không có suy nghĩ. Nói theo Kinh Văn gọi là avitakkacitta. Avitakkacitta là tâm không có suy nghĩ. Nếu tiếp tục phân loại: sabhava avitakka (tâm tụ nhiên không có suy nghĩ) và bhabanabala avitakka (tâm nhờ năng lực tu tiến không có suy nghĩ). Hai loại tâm không có suy nghĩ. Đừng nghĩ đã là tâm thì có suy nghĩ nhé. Chúng ta còn có loại tâm tỉnh lặng không có suy nghĩ nữa.

  

   Nếu nói theo vi diệu pháp, thì có 55 loại tâm có kết hợp với suy nghĩ. 66 loại tâm không có kết hợp suy nghĩ. Nếu cộng lại là cả hai, ta được 121 tâm cả thảy.

 

   Theo các tôn giáo khác, người ta không chấp nhận có tâm không suy nghĩ. Vào lúc Đức Phật còn tại thế, cùng thời với Ngài có đạo trưởng Nigantha Nataputta mà ngày nay đạo của ông được gọi là đạo Jain, một đạo rất thịnh hành ở Ấn Độ. Trong kinh văn, họ gọi ông ta là “vaddhamana mahavira”. Trong kinh điển Pali thì ông được gọi là Nigantha Nataputta. Nigantha Nataputta không chấp nhận cái ý kiến cho là có tâm không có suy nghĩ. Ông cho rằng: đã là tâm thì phải có suy nghĩ.

 

   Một lần nọ, ông ta gặp phú hộ Citta là cư sĩ để tử của Đức Phật. Phú hộ Citta là một người có trí tuệ thiện xảo trong công việc nói Pháp. Khi gặp nhau, Nigantha Nataputta hỏi:” Ta có nghe Đức Gotama thuyết; có loại định không tầm, không tứ là định không có suy nghĩ. Không thể nào có loại tâm mà không có suy nghĩ được. Có suy nghĩ thì mới gọi là tâm chứ. Vậy ông nghĩ sao hở phú hộ, ông có tin là có tâm không có suy nghĩ, có Định không có suy nghĩ chăng, ông nói nghe coi?” Qúy vị hãy nghe cho rõ câu hỏi của ông ta nhé? Ông ta hỏi phú hộ là lời Đức Phật nói như thế ông có tin hay không?

   Rồi phú hộ Citta đáp rằng ông ta không tin có tâm mà không có suy nghĩ.

   Nigantha Nataputta bấy giờ lấy làm dương dương tự đắc, cao giọng để cả hội chúng có thể nghe thấy:” Các ông nghe cả chưa, ngay cả phú hộ Citta, đệ tử cận sự của Gotama còn không chấp nhận có loại tâm không có suy nghĩ. Ông ta nói rằng ông ta không tin đấy, quý vị nghe rõ chưa!”

 

   Khi ấy, phú hộ Citta mới từ tốn giải thích rằng, chính ông ta đã tự mình thực hành thiền định rồi và đã đạt được nhị thiền, tam thiền, tứ thiền; tự ông đã từng cảm nhận được nó rất nhiều lần. Vì vậy ông ta biết được cái gọi là Định không có suy nghĩ, tâm không có suy nghĩ (định không tầm – không tứ). Ông ta không nói rằng ông ta tin mà là ông ta biết. Tự ông ta biết được chứ không phải vì tin.

   Không phải ở đời, nhiều người vì tự mình không biết nên không chịu chấp nhận cái điều người khác nói sao? Hay là nếu có ai đã nói rồi, nó không phải cái điều mình biết, hay nó đã có ở trong sách vở rồi, chúng ta phải chấp nhận thôi? Nhưng với phú hộ Citta vì tự bản thân ông đẫ từng kinh nghiệm được, đạt được Định không có suy nghĩ cho cho nên ông ta nói rằng ông ta không tin.

   Thế rồi Nigantha Nataputta nói lớn:” hãy xem này, phú hộ Citta thật là quanh co lắt léo. Mới đây ông ta còn nói là không tin, còn bây giờ thì lại nói rằng có biết.” Phú hộ Citta rõ ràng đã thách thức ông ta, hỏi:” vậy thưa ông, tin và biết thì giống nhau hay là khác nhau?” Ngay từ đầu Nigantha Nataputta cứ nghĩ rằng phú hộ Citta chấp nhận lời nói của ông ta nên tỏ vẻ lúng túng.

   Tin và biết thì giống nhau hay khác nhau? Khác nhau phải không? Tin có nghĩa là tự mình chưa biết mà chấp nhận những gì người khác nói. Còn tự mình biết thì không cần phải tin nữa, nó đã vượt qua ngưỡng của niềm tin rồi.

   Chúng ta có thể tìm thấy đoạn Nigantha Nataputta không nói được lời nào, cuối cùng đành chấp nhận thua cuộc trong Samyutta Pali (Tương Ưng Bộ ). Do vậy, quý vị hãy nhớ cho một điều là có tâm đi kèm suy nghĩ cũng như có tâm không đi kèm suy nghĩ.

 

   ĐIỀU NÊN SUY NGHĨ VÀ KHÔNG NÊN SUY NGHĨ

   Các nhà sư chúng tôi cũng có những điều nên suy nghĩ cũng như có những điều không nên suy nghĩ. Cho nên chúng ta rất cần phải nghiên cứu về những suy nghĩ của tâm. Mọi người ai đều cũng có suy nghĩ. Không có người nào là người chưa từng suy nghĩ cả.

 

   Tâm tự nhiên không suy nghĩ (sabhava avitakka) thì gồm có 10 tâm. Đó là những tâm nào? Khi con mắt nhìn thấy hình sắc, tâm biết cảnh có 2; khi lỗ tai nghe thấy âm thanh, tâm biết cảnh có 2; mũi khi ngửi được mùi, tâm biết cảnh có 2; lưỡi khi nếm được vị, tâm biết cảnh có 2; thân khi xúc chạm, tâm biết cảnh có 2. 2 nhân 5 là 10 (ngũ song thức tâm – dvipanca vinnana). Đây là những tâm không có suy nghĩ. Còn những tâm còn lại là những tâm có suy nghĩ theo tự nhiên. Bây giờ xin quý vị tự hỏi: Mỗi khi suy nghĩ thì nó đều tốt cả hay sao?

   Đức Phật đã dạy cách từ bỏ được những suy nghĩ không tốt lành như trong bài kinh Vittakasanthanasutta kinh an tầm – một bài kinh rất đáng ghi nhớ, Chính Đức Phật đã đặc biệt coi trọng đến những suy nghĩ nơi tâm con người mà thuyết giảng giáo kinh. Nếu biết cách tư duy chân chánh thì tư duy nào là nhân hỗ trợ chứng ngộ Níp bàn, làm khởi sinh Chánh Tư Duy – cửa ngõ của Bát Chánh Đạo. Ngược lại với những suy nghĩ chân chánh này, (những suy nghĩ sai quấy là những suy nghĩ có thể khiến rơi đọa vào những khổ cảnh, đọa xứ). Do đó mà các nhà sư chúng tôi cần phải học để phân biệt được 2 loại suy nghĩ chánh và ta này.

 

   SUY NGHĨ CHÂN CHÁNH VÀ SUY NGHĨ SAI QUẤY

   Cần phải thiết lập những suy nghĩ chân chánh và loại bỏ những suy nghĩ sai quấy nơi tâm mình. Vậy những suy nghĩ sai quấy là những suy nghĩ như thế nào? Những suy nghĩ sai quấy là những suy nghĩ có lỗi lầm có khả năng dẫn tới những hậu quả khổ đau. Những suy nghĩ này cần phải loại bỏ. Những suy nghĩ  chân chánh là những suy nghĩ không có lỗi lầm và có khả năng mang lại an lạc.

   Có một sự khác nhau rõ ràng giữa hai loại suy nghĩ này nơi tâm con người. Biết được điều đó, chúng ta sẽ nghĩ đến những suy nghĩ sai quấy hay những suy nghĩ chân chánh đây? Sẽ phải suy nghĩ chân chánh đúng vậy không?

    Trước khi nói đến những suy nghĩ chân chánh, tôi sẽ nói những suy nghĩ sai lạc trước. Để không bị sai quấy thì nó quan trọng hơn là để làm đúng. Khi Đức Phật chỉ đường, Ngài chỉ con đường không nên đi trước, rồi sau đó mới đến con đường nên đi theo. Điều ấy là hợp lí, hợp tự nhiên. Chỉ rõ trước con đường không nên theo thì quan trọng hơn. Nếu đi nhằm con đường không nên đi, thì có thể sẽ gặp phải khổ đau lớn. Nếu không đi con đường phải theo, thì chỉ bị bất ổn thôi chứ không thể gặp khổ đau như đi lầm đường.

   Vì vậy, quý vị thử nhìn bài Kinh Phước Lành Mangalasutta xem :asevana ca balanam – Ngài dạy không thân cận kẻ ngu trước; sau đó rồi mới đến kết hợp với người hiền trí sau (pandittananca sevana). Ví dụ như một loại thức ăn có độc còn một loại khác thì không nhưng mà nó không lợi ích cho cơ thể. Người không biết gì nên ăn cả hai, vậy ta cần ngăn cản cái nào trước? Thức ăn có độc trước thì quan trọng hơn phải không? Chỉ ăn nhầm thức ăn không có ích cho cơ thể cũng không đau đớn bằng ăn phải thức ăn có độc. Nếu ăn nhầm thức ăn có độc, đau khổ lập tức sẽ đến ngay. Vì vậy nhà sư tôi sẽ nói đến cái việc không nên trước.

 

   NHỮNG SUY NGHĨ VỚI THAM (LOBHA)

   Bây giờ chúng ta thử tìm hiểu xem là những suy nghĩ nào mà Đức Phật đã dạy là chúng ta không nên suy nghĩ “Chandupasamhita – mong muốn những lợi ích, những suy nghĩ với tham lobha. Tất cả những suy nghĩ với tham đều là những suy nghĩ không tốt đẹp. Nhiều người có thể suy nghĩ rằng là người thì phải có tham chứ. Nhờ có những suy nghĩ với tham mà họ đang được hưởng những lợi lạc rõ ràng đây, họ có thể nghĩ như vậy. Tuy nhiên, suy nghĩ với tham thid mang lại nhiều kết quả xấu hơn là cho kết quả tốt đẹp. Nếu nói theo Kinh Văn Pali thì những suy nghĩ với tham này là kamavitakka – dục tầm.

   Những suy nghĩ kết hợp với lobha, tham muốn những đối tượng mà nó đang mong muốn. Đó là những suy nghĩ thường tình nơi con người. Nghĩ đến dục lạc là một suy nghĩ rất là bình thường nơi con người. Mắt ưa nhìn những cái đẹp, tai ưa nghe những âm thanh hay, mũi ưa ngửi hương thơm, lưỡi ưa nếm những vị ngon, thân thể ưa xúc chạm những vật mềm mượt. Những suy nghĩ liên hệ đến những đối tượng dục lạc này gọi là kamavitakka (dục tầm). Người ta thường nói những loại suy nghĩ này thường có lỗi lầm. Tại sao vậy? Vì nơi những người đang có những suy nghĩ này, tối thiểu là nó không thể làm sinh khởi Trí Tuệ. Đó là nói lỗi lầm tối thiểu. Nói theoc cách thông thường thì nó làm mê mờ đầu óc. Trí tuệ không thể khởi. Nếu như một người đang có những suy nghĩ này thì chẳng có một Trí Tuệ chân thật nào ở đấy cả. Nó được gọi là tham dục ngăn che (tham dục triền cái). Vì những suy nghĩ hợp tham, cấu kết với tham mà nó ngăn cản những thiện pháp, pháp lành không thể hiện khởi.

   Chưa hết,” pannaya dubbalikarano”, nó có khả năng làm suy yếu đi năng lực của Trí Tuệ. Những suy nghĩ này làm suy giảm năng lực cura Trí Tuệ. Đây là lỗi tối thiểu.

   Đạt được Tuệ thấy biết chân thật rất chi là quan trọng. Vì dục tham, nó ngăn cản sự thành tựu trí thấy biết nên được gọi là nivarana – pháp hôn ám – triền cái. Suy nghĩ hợp tham này làm suy yết trí thấy hết. Vậy nên dục tầm “kamavitakka”hay suy nghĩ kết hợp tham là loại suy nghĩ không nên suy nghĩ.

   Nếu không thể kiểm soát được suy nghĩ này để đến khi tâm tham lớn mạnh mà cuối cùng phạm phải tôi lỗi. Của cải của mình thôi còn chưa đủ, thậm chí còn muốn thêm tài sản của người khác nữa. Vì tham muốn này mà thế gian mới có sự nảy nở béo tốt chắc khỏe lên. Càng suy nghĩ thì càng ham muốn. Càng nghĩ ngợi thì dục tham càng mạnh.

   Vì vậy mà loại suy nghĩ này luôn luôn có lỗi lầm “ savajja”, và nó có thể có khổ cho khổ quả “Dukkhavipaka”. Ở nơi nào có khổ đau thì luôn tìm thấy những sự khó khăn, rắc rối nhiều chuyện. Sâu xa là như vậy. Đó là những thứ vì tham muốn mà khiến cho nó xuất hiện vậy.

   Xin ghi nhớ cho là loại suy nghĩ kết hợp tham luôn là loại ý nghĩ không đáng nghĩ. Sự mong muốn của cải, sự thân mật với cá nhân v.v... tất cả những ý nghĩ kết hợp ham muốn đều cho kết quả khổ đau.

   NHỮNG SUY NGHĨ ĐI KÈM SÂN HẬN

   Sau đây là một loại ý nghĩ khác không nên tầm tư đó là “dosupasamhita” – suy nghĩ đi kèm vơi sân. Chúng ta hãy thử nghĩ xem, suy nghĩ khi có sân và suy nghĩ kh tâm ta sáng suốt không có sân hận thì giống nhau hay khác nhau? Những suy nghĩ kết hợp sân hận ngoài việc không đem lại cho tâm người ta một sự an lành mà còn luôn khiến làm cho người mình không ưa thích thành kẻ thù nữa. Những suy nghĩ như vậy không bao giờ có thể suy nghĩ tốt lành được. Suy nghĩ này được gọi là “byapadavitakka” – sân tầm.

   Khi bất chợt suy nghĩ đến một đối tượng nào đó mà chúng ta không ưa thích; tại chỗ ấy ta tìm thấy có hai đối tượng, đó là: người không thỏa mãn và vật ( vô tình) không thỏa mãn. Tâm con người rất kỳ lạ, không những thỏa mãn. Tâm con người rất kỳ lạ, không những sân hận với loài hữu tình mà còn có thể bực mình với những vật vô tình nữa. Vì vậy mà chúng ta có 9 loại aghatavatthu thêm 1 nữa là 10.

   Những suy nghĩ không thỏa mãn nơi tâm con người; suy nghĩ kết hợp với sân hận có bao nhiêu loại? Với loài hữu tình ta có 9 loại. Tôi sẽ nói để quý vị dễ nhớ.

   Người này trước kia gây thiệt hại cho ta, bây giờ nó lại tiếp tục nữa, sau này nó cũng thế thôi. Như vậy có 3 điều không thích thú ở đây.

   Cái kẻ này, trước kia làm hại, gây khổ cho người thân của ta, giờ cũng vậy, và sau này cũng thế. Đây có thêm 3 nữa.

   Người này bợ đỡ xu nịnh kẻ không thích hợp với ta để đạt được lợi lộc, trước đây nó giúp đỡ, giờ cũng giúp, sau này cũng thế nữa. Thêm 3 nữa là tổng cộng là 9.

   Những suy nghĩ kết hợp sân có thể là gốc rễ, tạo ra những sự bực bội phiền toái. Khá nhiều người trong đời này đều kinh nghiệm được điều đó. Những suy nghĩ này là những suy nghĩ liên hệ đến sân. Đây được gọi là 9 loại “aghatavatthu”.

   Còn liên hệ đến loài vô tình thì ta có thêm loại gọi là “attanakopa” (bực mình vô lý, sân sai chỗ) nữa”. Có một số người vấp phải cái bậc cửa thì bực mình với cái bậc hốt cửa. Có số thì bực mình vì trời nóng, số khác thì bực bội vì gió quá, số khác nữa thì bực vì lửa nóng. Người nóng tính hễ nhìn thấy bất kỳ vật gì đều bực mình vì vật đó. Tính thêm suy nghĩ hợp sân đối với vật vô tình này nữa tổng cộng lại là 10.

   Tôi sẽ kể quý vị nghe câu chuyện một người nóng tính. Trong khi chèo ngược dòng sông Ayyavadi bằng một chiếc ghe có buồm – có gió thì buồm mới căng. Lúc này trời thì đứng gió mà nước thì lại chảy mạnh không thể nào chèo đi được. Vì không chèo đi được nên ông ta mới bỏ lên bờ sông, một phần ông lấy dây cột quanh hông mình, rồi vừa đi ngược dòng vừa kéo như vậy. Đi ngược dòng trên bờ sông khúc khuỷu cả đoạn đường dài vất vả như vậy cho đến lúc gần tới làng thì gió mới bắt đầu hây hây thổi. Bực mình ông ta nói: Cột dây kéo đi cả đoạn đường dài mong cho có chút gió, giờ đến làng rồi mới thổi là sao? Nói rồi ông ta dựng lại cột buồm, đúng là qua làng rồi thì buồm mới căng. (Myanmar có câu thành ngữ qua làng buồm căng- nghĩa đen là qua làng rồi, buồm mới căng để chỉ sự không may mắn và ngụ ý về sự bực mình vô cớ). Qúy vị thử nghĩ coi, đến làng rồi mà ông ta vẫn còn giận với gió.

   Còn hơn thế nữa là có một ông cư sĩ khác chuẩn bị lều bạt vào cái tháng Tapoung Tangu (tháng chuẩn bị đón năm mới của người Miến). Vào tháng này thì gió cứ thôi từng cơn, từng con một mát mẻ. Trước đây, người ta thường làm lều rạp bằng giấy dán. Lúc ông sửa soạn lều rạp, do mỗi khi nổi gió thì giấy cứ dễ dàng phất lên, nên ông ép nó xuống, rồi gió lại thổi, giấy lại phất lên, ông lại cứ ép nó xuống. Một hồi phát bực, cầm lấy cái dao gần đó đứng dậy rồi ông chém gió.

   Đó là những ví dụ của sự bực mình với đối tượng vô hình. Đó gọi là atthanakopa. Không có lí gì mà phải bực mình cả. Sân tầm byapadavitakka có thể gây ra những bực mình như thế. Đây là loại suy nghĩ không nên suy nghĩ.

 

   HẠI TẦM – VIHIMSAVITAKKA.

   Một loại suy nghĩ khác tiếp theo đây chính là “

vihimsavitakka” (Hại tầm – suy nghĩ làm hại, gây khổ cho người khác). Hại tầm – là suy nghĩ muốn làm hại người khác, giết hại người khác, làm cho người khác phải khổ đau. Nói theo tiếng lóng bây giờ là những suy nghĩ để “cho nó lên cột” v.v. Những suy nghĩ làm sao cho người khác đau đớn, khổ sở thì được gọi là Hại tầm.

   Đây là những suy nghĩ không nên tầm tư đến. Qúy vị có khởi lên những suy nghĩ này không? Có khởi lên loại hại tầm này không? Đấy, đấy là những loại suy nghĩ có lỗi lầm không nên suy nghĩ; những suy nghĩ mang lại khổ đau. Loại suy nghĩ này khiến cho chính người tầm tư nó, suy nghĩ đến nó là đã khổ đau rồi, không những vậy còn đem lại khổ đau rồi, không những vậy còn đem lại khổ đau cho những người có liên quan với người đó nữa. Những suy nghĩ như vậy không có lấy một nguyên nhân nào đem lại an lạc lợi ích tốt đẹp hết. Vì vậy mà nó mới được gọi là hại tầm.

   Vậy, để có thể loại bỏ những suy nghĩ này thì phải có suy nghĩ khác thay vào. Nếu suy nghĩ đó đang tăm tối, thì lấy suy nghĩ sáng sủa hơn thay thế cho nó. Lấy những suy nghĩ có ánh sáng thay vào. Muốn tối tăm mất đi thì cứ thay vào đó bằng ánh sáng. Cũng như vậy, nên thay thế những suy nghĩ sai lạc bằng những suy nghĩ chân chánh mới được.

 

   SUY NGHĨ XÃ LI ( NEKKHAMAVITAKKA)

   Đối nghịch với dục tầm (những suy nghĩ kết hợp tham) là Li tầm (những suy nghĩ xã li). Li tầm là nói đến những suy nghĩ không kết hợp tham, loại bỏ được những suy nghĩ hợp tham khi con mắt muốn nhìn thấy cảnh đẹp tươi, tai muốn nghe thấy âm thanh êm dịu, mũi muốn ngửi mùi thơm, lưỡi muốn nếm được vị ngon ngọt, thân muốn xúc chạm v.v. Những suy nghĩ kết hợp tham cũng là li tầm. Đây là nói đến loại suy nghĩ thiện lành bao gồm những suy nghĩ về Sila (gìn giữ giới), hành thiền (bhavana) nữa đúng không? 

   Suy nghĩ nơi con người chẳng giống nhau. Hôm nay phim gì hay thì xem, không đi nghe Pháp. Chúng ta có suy nghĩ này không? Được rồi, hôm nay phim có hay mấy mình cũng không coi, mà sẽ đi nghe Pháp. Chúng ta cũng có suy nghĩ này luôn phải không? Chẳng suy nghĩ nào là giống nhau đúng không? Thế rồi nhờ đi nghe Pháp xong, người ta có thể có ngay kiến thức, Trí Tuệ phải vậy không?

   Đúng vậy, những suy nghĩ đúng đắn luôn luôn có lợi ích. Vì vậy mà những suy nghĩ chân chánh là những suy nghĩ không thích thú, không đắm chìm trong dục lạc, nó chuyển hướng khỏi dục lạc. Nếu những suy nghĩ này xuất hiện, ngoài việc làm vắng mặt lỗi lầm (anavajja) ra, nó còn đem lại quả lành an lạc nữa (sukhavipaka). Vì vậy mà li tâm là loại suy nghĩ thiện lành phải không?

   Nó là một pháp có tự tánh hớp vô tham (alobha). Alobha (vô tham) là pháp đối nghĩa với tham lobha nên nó là pháp loại bỏ tham. Nếu suy nghĩ hợp vô tham xuất hiện nó khiến người ta muốn đem cho, chia sẻ, giúp đỡ; muốn xã li của cải; những suy nghĩ thiện lành do muốn chia sẻ với mọi người khởi lên, đây gọi là generosity – sự rộng lượng, phóng khoáng. Đấy là Li tâm – nekkhamavitakka.

 

SUY NGHĨ VỚI TÂM TỪ (METTA)

   Tiếp theo đây là suy nghĩ chân chánh tốt đẹp nên suy nghĩ đó là abyapadavitakka (vô sân tầm) – là suy nghĩ hợp với Từ tâm (metta). Khi sân tầm – suy nghĩ sân hận đến thì nó sân hận với người ta. Vật vô tình tự nhiên cũng không ngoại lệ. Vật vô tình tự nhiên cũng không ngoại lệ. Những suy nghĩ sân hận đó là byapadavitakka – Sân tầm. Trong suy nghĩ của một người không sân hận, tâm họ luôn mong cho chúng sinh, sinh loại được an vui, muốn giúp người đang hoạn khổ, là những suy nghĩ mong muốn cho người sự an vui lợi lạc. Khi mình nghĩ với những suy nghĩ này thì có mát mẻ không? Mát mẻ an vui đúng không?

   Những suy nghĩ này được gọi là vô sân tầm (abyapadavitakka). Những suy nghĩ đặt mình vào trong lợi ích thiện lành lợi lạc của chúng sanh mà suy tư:” mong muốn cho tất cả chúng sanh được an vui”. Tâm nghĩ đến, miệng nói lên và còn tay thì phục vụ cho, làm cho; mong cho họ được an lạc. Vì mình nghĩ đến những điều lành nên lời nói mình cũng lành, việc làm mình cũng lành. Vì tự mình không có lỗi lầm mà còn có được an lạc thiện lành, người khác còn có thể được lợi lạc nữa. Đây là suy nghĩ nên nghĩ đến.

   BI TẦM (KARUNAVITAKKA), những suy nghĩ hợp với lòng bi mẫn.

   Một suy nghĩ khác nữa là avihimsavitakka (suy nghĩ với tâm bi), suy nghĩ với tình thương, với lòng thương tưởng. Đó không phải là suy nghĩ muốn nhìn thấy người khác phải khổ, muốn tàn hại người khác. Là suy nghĩ không muốn quấy rối, hãm hại người khác. Những suy nghĩ muốn cho tất cả thoát khỏi sự khổ đau. Nghĩ làm sao để giúp đỡ cho người đang đau đớn khổ sở? Làm sao để nâng đỡ cho họ? Làm sao giúp cho người không thể trở thành người có thể? Làm sao để hỗ trợ, giúp đỡ cho người thất vọng buồn đau? Làm sao cho người đang đói khát, những người đang cần sự hồi hướng có thể nhận được phước báu hồi hướng v.v . Đây là những suy nghĩ kết nối với tình thương, với lòng thương tưởng.

   Việc một người đang có suy nghĩ như vậy: Ta có nặng lòng giúp đỡ cho người đang cần sự giúp đỡ, cái người đang khổ đau này không? Ở đời này vì có vo hại tầm, suy nghĩ bằng tình thương mà có sự giúp đỡ giữa người này với người kia. Ví dụ như, khi ta gặp cảnh hỏa hoạn chẳng hạn mà giúp người thoát khỏi nạn lửa. Khi gặp người đuối nước mà ta giúp người thoát khỏi nạn nước. Khi gặp người bị trúng gió mà ta muốn giúp người thoát khỏi nạn gió. Đó, vì những suy nghĩ này mà ta giúp đỡ họ, đó là những suy nghĩ vô hại, nên ta suy nghĩ vậy.

   Nếu nói lại những suy nghĩ của tâm thì ta có 3 loại suy nghĩ bất thiện (hay loại không nên suy nghĩ) và 3 loại suy nghĩ thiện lành (hay loại nên suy nghĩ).

   Toàn thể quý vị thính pháp thân mến, nếu những suy nghĩ bất thiện này xuấ hiện nơi tâm mình thì có cần phải loại bỏ hay không? Nếu tiếp tục suy nghĩ, thì chắc chắn sẽ có lỗi lầm (savajja) và khổ quá sẽ tới. Vì vậy, không nên tiếp tục nghĩ đến nó nữa; đó là việc cần thiết, cần thay đổi nó bằng những suy nghĩ thiện lành.

 

   VITAKKASANTHANASUTTA (Kinh An Tầm)

   Trong bài kinh an tầm này, Đức Phật đưa ra phương pháp kiểm soát tâm có hệ thống. Không dễ gì có thể kiểm soát được tâm. Những suy nghĩ nơi tâm chúng ta thường có khuynh hướng thiên lệch nhiều về bất thiện. Vì suy nghĩ có khuynh hướng nghiên về phía bất thiện nên việc thoát ra khỏi nó không phải là chuyện dễ dàng. Vì vậy mà trong bài kinh này, Đức Phật đưa ra 5 phương pháp để thoát ra khỏi những suy nghĩ bất thiện.

   Trong lúc Đức Phật thuyết pháp, Ngài hướng đến người đang thực hành an định tâm rồi mới thuyết, vì thế mà dù ai đi nữa, để kiểm soát được những suy nghĩ bất thiện đều phải thực hành theo cách này. Chúng ta muốn kiểm soát được những suy nghĩ bất thiện cũng sẽ phải đi theo con đường này.

   Nói lược lại, những suy nghĩ nơi tâm thì có những suy nghĩ khởi lên hợp tham, có những suy nghĩ khởi lên hợp sân, có những suy nghĩ khởi lên hợp si. Những suy nghĩ hợp tham và sân thì rõ ràng.

   Còn những suy nghĩ với si như khi cho rằng không nên là việc nên làm. Đây là loại suy nghĩ hợp si. Suy nghĩ này không đem lại nguy hiểm sao? Đấy, nghĩ rằng nên làm cái việc không nên làm, những suy nghõ khởi lên dẫn đầu bằng tham, sân, si này là những suy nghĩ có nguy hiểm.

   Một suy nghĩ kết hợp tham khởi len nơi nhà sư chúng tôi chẳng hạn, chúng tôi sẽ kiểm soát tham này như thế nào đây? Khi khởi lên một suy nghĩ hợp sân thì phải hạn chế nó làm sao đây? Một suy nghĩ mê mờ si ám khởi lên thì phải xử lý làm sao đây?... Đức Phật dạy có 5 cách để kiểm soát.

 

   Cách 1: GIẢI QUYẾT BẰNG CÁCH THAY ĐỔI ĐỐI TƯỢNG, ĐỀ MỤC

   Cách thứ nhất, nếu suy nghĩ bất thiện khởi lên rồi thì hãy thay đổi đối tượng (đề mục) đi. Đây là một cách. Đừng để suy nghĩ tiếp tục nữa mà hãy thay đổi đề mục đi. Đây được gọi là phương pháp thay đổi đối tượng. Vậy thay đổi đối tượng như -thế nào? Ví dụ như- khi có sự dính mắc vào ai đó chẳng hạn – đó là suy nghĩ hợp tham mà thôi. Người mẹ thương con cái cũng vậy, thương con cún, con miêu cũng vậy, từ khi bắt đầu đã là có tham ái và quyến luyến rồi. Và khi những suy nghĩ hợp tham khởi lên sau khi có sự quyến luyến đến những loài hữu tính rồi thì làm sao thoát ra được?

   Thêm nữa là vật vô tình, mình không có quyến luyến sao? Một chiếc vòng tinh xảo bắt mắt không dám cầm, không đeo mang sao? Một bộ áo mới hợp thời trang không dám dùng, không dám mang sao? Tham sinh khởi nơi các của cải. Một số người khá tham luyến tài sản. Người khác thử cầm lên xem họ còn không thích nữa là. Đây được gọi là tham luyến đối với các hành. Nếu nói rõ hơn về điều này, có hai loại suy nghĩ: suy nghĩ tham luyến đối với loài hữu tình và tham luyến đối với vật vô tình.

 

   THAM LUYẾN ĐỐI VỚI LOÀI HỮU TÌNH

   Làm sao có thể từ bỏ được tham luyến đối với loài hữu tình. Phật dạy, thay đổi đối tượng và từ bỏ. Thay đổi như thế nào? Ví dụ khi tâm quyến luyến một ai đó khởi lên rồi, không phải chúng ta sẽ loại bỏ nó bằng đề mục tử thi bất tịnh sao? Ở Myanmar, phần đông cho rằng nói đến đám ma là không hay rồi. Điều đang nói ở đây không phải vậy. Loại bỏ bằng bất tịnh (asubha) có nghĩa là, ví dụ, khi có sự tham luyến một người nào đó nghĩ rằng họ đẹp đẽ, xinh tươi thì hãy nghĩ là họ không đẹp, không tươi tắn, và đáng gớm. Những suy nghĩ này thắng được sự tham luyến. Ví dụ, nếu mình dính mắc với người ta ở cái lông cái tóc à? Hay dính mắc ở cái móng tay, móng chân đây? Rồi sau đó xem đến 32 phần thân thể  khác thử, ở đó hình dạng con người sẽ mất đi, chỉ còn: tóc, lông, móng, răng, da, cơ, xương, gân, tủy, thận, nước tiểu v.v ..Nếu nhìn thấy được từng thứ một bằng trí tuệ thì sẽ không tìm thấy sự luyến ái ở đó nữa. Vơi phương pháp này sẽ loại bỏ được tham quyến, dính mắc đối với một người.

   Nếu không thể loại bỏ được bằng cách đó, lửa tham luyến còn nóng hơn. Trong thế gian này lửa tham dục là nóng nhất phải không? Lửa ngọn này nóng như thế nào? Nóng cháy từ tim của mình. Lửa bên ngoài là một loại, một ngọn lửa sát hại bên trong mà chúng ta không biết – ngọn lửa trái tim. Lửa này có thể đem nguy hiểm đến mức độ có thể giết chết người. Có thể bùng phát và huiyr hoại cuộc đời. Vì vậy mà không nên lơ đễnh ngọn lửa này. Đức Phật đã cho chúng ta cách đối trị rồi.

   Thời Đức Phật tại thế, có vị tỳ khưu tên là Vangisa, xuất gia khi tuổi còn xanh, còn niên thiếu, sống hạnh khất thực từng nhà. Khi đi khất thực trị bình, vì nhãn căn thiếu phòng hộ, vị ấy trông thấy một người con gái rồi sinh lòng luyến ái. Tư duy kết hợp tham dục khởi lên.

   Khi tham dục khởi lên, vị ấy tỉnh giác về suy nghĩ ấy:” Ôi, suy nghĩ này sẽ làm ta khổ mất thôi.”  Nghĩ rồi vị ấy đến thầy của mình là tôn giả Ananda thưa hỏi rằng:” bạch thầy, lửa tham dục thiêu đốt nơi tim con, vậy con phải làm sao đây? Con làm sao mà để dập tắt nó?” Khi lửa tham dục thâm nhập như vậy, nếu không biết thì thật là khổ sở phải vậy không? Vị ấy thưa rằng lửa tham dục đã thiêu đốt tâm can đấy. Rồi thì phải làm sao dập tắt nó?

   Tôn giả Ananda đáp:” Khoan nào, chỉ do con tưởng sai đấy thôi.” Sannaya vipariyesa, cittam te paridayhati.”vì tưởng sai mà Tâm con phải chịu thiêu đốt đấy.”

   Tưởng sai rằng cái không đẹp cho là đẹp thì đó là suy nghĩ sai lầm vậy. Không đẹp, chỉ bất tịnh thôi. Thân thể con người toàn là những thứ bất tịnh, đáng ghê gớm. Hãy như thật nhìn vào cơ thể mnhf thử. Buổi sáng sớm chúng ta phải đi đâu. Đi vệ sinh phải không? Phải đi rửa mặt, đánh răng, tiểu đại tiện thải bỏ những thứ cặn bã. Có những thứ nào đâu để cất giữ. Chẳng có một thứ nào để cất giữ hết. Vậy mà chúng ta đang lại dính mắc với nó. Suy nghĩ cho kỹ về cơ thể này, những thứ thoát ra từ thân thể này, chúng ta cho răng nó thơm tho, đẹp đẽ. Nếu vậy thì cứ để vào trong một cái lọ thử xem, có thể nào chúng ta chịu nổi không? Chỉ mong là đậy lại sớm rồi đem vứt bỏ đi thôi phải không?

   Mọi người nói rằng đề mục bất tịnh là không thích hợp. Thử suy nghĩ, khi mọi người trong gia đình, bạn bè cùng ăn uống vui vẻ với nhau, những người trẻ tuổi xúm lại cùng nhau sửa soạn bữa ăn sao cho đẹp mắt không phải vậy sao? Ăn xong no bụng rồi thì đi đâu? Không phải 2,3 ...người đều phải đi hay sao? Có thích hợp không hay không thích hợp đây? Còn gì rõ ràng hơn nữa đây? Thử nghĩ đi, chúng ta đang nói đến cái đoạn cuối cùng đấy.

   Một món ăn trước khi cho vào miệng thì mất nhiều thời gian rữa ráy thật sạch sẽ. Bỏ vào miệng rồi nôn ra có ai còn muốn ăn nữa không? Chỉ có trẻ nhỏ không biết thì còn ăn. Biết rồi có ai mớm cho cũng không thể nào, đúng không? Tại sao vậy? Tại nhờm gờm, tại ghê tởm phải vậy không? Tôi đang mời quý vị thử quan sát bất tịnh, tưởng sự nhờm gớm Patikulasanna đấy.

   Xin hãy nhìn cho kỹ thêm xem, rõ ràng hơn nữa là nước bọt trong miệng. Khi còn nằm trong miệng mình, chẳng ai nhờm gớm cả; đều nuốt xuống. Thử nhổ nước bọt ra có ai dám nuốt nước bọt của mình lại không? Một khi lìa bỏ khỏi thân năm uẩn này thì đồng thời ngay lập tức, tất cả đều là vật dơ uế. Xin hãy thử nhìn tóc trên đầu mình xem. Trên đầu mình tóc được nhuộm vàng, thích trắng nhuộm trắng. Nhuộm xong, ướp đủ hương hoa, một sợi tóc khi rơi vào trong đĩa cơm thử cơi, chúng ta còn muốn ăn nữa không? Những sợi tóc khi còn yên vị của nó thì tưởng đẹp đẽ. Nằm vào vị trí khác có phải là những đồ bỏ đi hay không? Không phải rõ ràng đó là những thứ không thích hợp sao? 

   Còn móng tay nữa, không phải khi đang còn nằm trên các ngón tay nó được sơn đủ thứ màu đỏ, nâu, đen, xanh sao? Rồi khi chúng ta cắt bỏ nó đi, có ai còn muốn cất giữ nó nữa không? Một khi rời bỏ thân này thì ngay lập tức nó trở thành vật đáng ghê ngay. Thật sự móng trên tay với móng bị cắt bỏ đều giống nhau. Thế nhưng con người thì cho rằng khác nhau. Khi nghĩ đến điều này thì đây là cách thay đổi đề mục vậy.

   Khi có nội kết, dính mắc với một người nào đó thì phương pháp thay đổi đề mục là lối thoát cho nó. Đức Thế Tôn đã dạy phương pháp này để loại bỏ những suy nghĩ sai lầm.” Annam nimittam manasikatabbam” hãy thay đổi đối tượng thử nhìn xem. Thử nhìn xem sau khi thay đổi suy nghĩ rằng nó đẹp thành suy nghĩ nó xấu thử. Nếu thay thế cái suy nghĩ rằng nó đẹp thành nó xấu thì tâm tham ái sẽ không thể nào quấy phá và lập tức rút lui. Tâm tham khi ấy đang thiêu đốt sẽ lắng yên. Đây là phương thuốc.

   Người ta khi thân ốm đau thì uống thuốc. Còn lúc này tâm có bệnh thì cũng cần phải uống thuốc. Nước ngoài không có loại thuốc này đâu. Ở họ chỉ có bác sĩ tâm lí trị liệu (psychotherapist) – nói theo ngôn ngữ chúng ta đó là bác sĩ đặc biệt điều trị tâm lí. Thuốc thì không cho uống mà chỉ nói thế này thế nọ đề họ thỏa mãn đồng cảm thôi.

   Pháp của đức Thế Tôn, không chỉ là pháp nói, là pháp có thể chữa trị dứt bệnh. Đó cũng là một liệu pháp tâm lí đó chứ. Họ thì không biết liệu pháp tâm lí này. Nếu biết thì chắc chắn họ sẽ dùng nó. Đây được gọi là tâm lí liệu pháp của người phật tử.

   Thay thế suy nghĩ nó đẹp thành suy nghĩ nó không đẹp. Nếu tham ái đã khởi lên rồi, để loại bỏ tham ái này, nghĩ đến một đề mục khác để thay thế đề mục khiến tham ái đang khởi ấy.

   Như tôn giả Ananda nói với tỳ khưu trẻ Vangisa rằng suy nghĩ của vị ấy đang lầm lạc. Vì vậy hãy sửa đổi lại suy nghĩ. “Asubhaya cittam bhavehi, mananusayamujjhaha” – Hiền giả hãy thật sự suy nghĩ về cái điều không thích hợp ấy. Nếu nhìn thử sẽ thấy tham aasi lúc mới đấy còn thiêu đốt tâm can nay đã dập tắt. Không cháy lan nữa. Nếu không như thế thì nó còn cháy lan thêm.

   Phương pháp này là phương pháp để giải quyết tham ái sau khi suy nghĩ có sự dính mắc vào đối tượng chúng sanh hữu tình.

 

   DÍNH MẮC VÀO ĐỒ VẬT

   Dính mắc nhiều vào những đồ vật như là vòng đeo, đồ trang sức, y phục, nhà cửa, v.v...Những đồ vật mình đang sử dụng. Khi tham đắm khởi lên mãnh liệt, phải ngăn chúng lại bằng cách nào? Theo Đức Phật dạy thì phải suy nghĩ rằng nó là không thường hằng. Nhờ suy nghĩ rằng nó chỉ được sử dụng trong chốc lát mà loại bỏ được suy nghic dính mắc này.

   Thử suy nghĩ kỹ xem, y pục dầu tốt đến mấy khi đã mang vào người thì ta mặc được bao năm, không cũ đi sao? Hoa có đẹp đến đâu chăng nữa, khi họ cho vào lọ, hay có cài lên tóc xem nó có được bao lâu? Không lâu đâu. Hãy suy nghĩ như vậy. Khi suy nghĩ như vậy, nội kết dính mắc trước đó chắc chắn sẽ giảm đi. Cái tâm không muốn cho người khác đụng đến, cầm lên không còn ở đó nữa. Suy nghĩ với một sự hiểu biết rằng nó không lâu đâu sẽ hỏng hóc. “tavakalika – chỉ thoáng chốc mà thôi”. “Không thường tại – anicca”, hoa này rồi sẽ héo úa – không tồn tại mãi được. Cái bộ y phục này chẳng bao lâu sẽ cũ rách đi. Ta phải sử dụng nó trước khi nó cũ kỹ đi. Phải có suy nghĩ như vậy. Thế rồi sự dính mắc vào các hàn do không dám cầm, không dám đụng, không dám mặc không còn nữa. Khi có sự dính mắc vào các hành như vậy thì hãy loại bỏ nó bằng phương pháp như vậy. Trên đây là phương pháp loại bỏ tham dục.

 

   SÂN HẬN VỚI LOÀI HỮU TÌNH

   Đôi khi con người ta còn suy nghĩ sân hận nữa. Khi có suy nghĩ với sân hận, họ ghét bỏ ngay cả loài hữu tình cũng vô tìn. Vậy khi chúng ta suy nghĩ sân hận với loài hữu tình, với người khác thì phải làm sao đây?

   Đức Phật dạy nên rải tâm từ. Hãy cố gắng đặt lợi ích của họ lên trên. Để dập tắt ngọn lửa sân hận đang bùng phát nơi tâm, hãy nhẫn nại, biết tha thứ và rải tâm từ. Đây là cách cố gắng giữ lòng từ đối với loài hữu tình.

   Cách giữ lòng từ không phải là dễ dàng vì việc loại bỏ sân hận quả thật là khó khăn. Nếu lòng sân hận phát khởi mạnh mẽ. Ở trong một bài Kinh, Đức Phật cũng đã dạy cách rồi. Hãy phát triển lòng từ. Nếu không khởi phát được tâm từ thì hãy để tâm bi mẫn. Nếu không được nữa thì hãy suy nghĩ đến nghiệp và quả của nghiệp. Nó đến đây bằng nghiệp của nó, ta đến đây bằng nghiệp của ta, tại sao lại sân hận vậy? Nếu nghiệp của nó tốt lành thì quả tốt lành. Hãy suy nghĩ về nghiệp của người ta và nghiệp của  mình như vậy. Nếu như vậy mà cũng không được nữa thì quên nó đi. Cuối cùng là quên bẵng nó đi, đừng để ý đến nó nữa. Cho dù là bằng cách nào đi nữa thì quan trọng vẫn là làm cho nó mấy đi không phải vậy sao? Với cách này chúng ta sẽ phải giải quyết, đối trị những suy nghĩ khiến sân hận làm cho phiền giận, bực bội nơi tâm trí chúng ta.

 

 

   SÂN HẬN VỚI VẬT VÔ TÌNH

   Đẫ thế chưa đủ, tâm trí con người nhiều lúc lại bực bội với những đồ vật vô tình nữa kìa. Ví dụ: Ở gần đây có một bụi cây rối mắt, thỉnh thoảng lại còn rụng lá nữa, khiến chốc lát chúng ta lại phải quét và chúng ta bực mình về nó. Và với trường hợp này, Đức Phật dạy chúng ta rằng:” dhatu manasikara- hãy tác ý về nguyên tố hay tác ý về các đại”.

   Cái mà ngươi đang giận đó, người đang giận địa đại chăng? Ngươi đang giận thủy đại chăng? Hay hỏa đại?... Khi kỹ càng tìm hiểu thử đối tượng khiến ta bực mình ấy, sự bực mình tức giận có thể sẽ không còn ở đó nữa. Quý vị thử kinh nghiệm đi. Khi nào có sự bực mình với vật vô tình, quý vị hãy thử dùng phương pháp này xem.

   NHỮNG SUY NGHĨ VỚI SI MOHA

   Còn khi có những suy nghĩ với si khởi lên các vị chú giải Sư đã đưa ra 5 cách sau:

   Cách thứ nhất, tiếp cận các vị thầy giỏi tích lũy kiến thức, lắng nghe Pháp. Những người có tâm si mạnh, nghĩ những điều không nên làm là những điều nên làm, những điều nên làm là những điều không nên làm. Người có sự mê mờ cũng vậy, để hết mê mờ thì cần phải thân gần các bậc thầy. Đó là cách thứ nhất.

   Sau khi đã tiếp cận những thầy hay, bạn giỏi rồi, thì học hỏi kiến thức nơi họ. Đây là cách thứ hai.

   Cách thứ ba: đặt ra những câu hỏi nhằm giải thích được rõ ràng ý nghĩa để thông tỏ được kiến thức mà chính mình đã học.

   Cách thứ tư: là nghe Pháp khi thích hợp.

   Cách thứ năm: phân định cho được nguyên nhân.

   Đây là những  nguyên nhân làm tăng trưởng trí tuệ . khi trí tuệ tăng trưởng, si ám mê mờ sẽ mất đi. Nếu chúng ta muốn cho si ám mê mờ được loại bỏ đi, chúng ta phải thực hành theo cách làm tăng trưởng trí tuệ hiểu biết. Điều này ngụ ý rằng chúng ta phải giải quyết với những phương pháp này. Đây là phương pháp tìm kiếm lối thoát và thay đổi đề mục cho những suy tư sai lạc.

   Phương pháp thứ hai là: tìm hiều những lỗi lầm của những suy nghĩ nếu khi chúng ta đang suy nghĩ với tham, với sân và với si hoặc là là tìm hiểu lỗi lầm của tâm đang có suy nghĩ.

   Chẳng hạn, giả sử như khi chúng ta đang suy nghĩ liên hệ đến dục tham hay những suy nghĩ liên hệ đến bực bội, hay những suy nghĩ khiến người khác thành kẻ thù, suy nghĩ đến lỗi lầm rằng: chà, có phải những suy nghĩ này là những suy nghĩ có thể khiến ta rơi vào thối đọa, gặp phải khổ đau chăng? Đây có phải là những suy nghĩ có thể làm hủy hoại lợi ích của ta hay chăng? Đây là những suy nghĩ cực kì đáng sợ. Nếu mà ta tiếp tục những suy nghĩ này ta sẽ phải khổ đau mất thôi. Nếu suy nghĩ như thế, cái suy nghĩ vừa mới xảy ra sẽ có được lối thoát cho nó, có thể giúp cho ta từ bỏ được những suy nghĩ không thiện lành. Đây là phương pháp thứ hai cần phải được kinh nghiệm thực hành thử.

   Phương pháp thứ nhất là phương pháp thay đổi đề mục. Phương pháp thứ hai là phương pháp suy nghĩ , chiêm nghiệm về những lỗi lầm. Phương pháp thứ ba Đức Phật dạy rằng phải “quên nó đi”, đừng để ý đến nó, đừng có tiếp tục suy nghĩ nữa. Nếu mà không dứt bỏ được suy nghĩ thì hãy làm cho nó đừng có khởi lên nơi tâm bằng cách đừng có tiếp tục suy nghĩ về nó, quên nó đi. Đây là phương pháp thứ ba.

   Phương pháp thứ tư là: là phương pháp tìm kiếm gốc rễ của suy nghĩ, nó đã bắt đầu từ đâu( phương pháp truy nguyên –nd). Ví dụ: khi những suy nghĩ có tham, có sân, có si, có sự gây thù oán khởi lên chúng ta tác ý tìm kiếm nguyên nhân của những suy nghĩ này bắt nguồn từ đâu. Trong khi tìm kiếm như vậy chúng ta sẽ tìm được lối thoát. Những suy nghĩ như vậy sẽ được loại bỏ bằng cách tìm nguyên nhân, chúng ta có thể có được lối thoát với suy nghĩ ấy.

   Còn phương pháp cuối cùng là phương pháp thứ năm: Đức Phật dạy rằng với những phương pháp thông thường mà không từ bỏ được những suy nghĩ bất thiện: Nếu như phương pháp thứ nhất thay đổi đề mục cũng không thành công; phương pháp thứ hai: suy nghĩ về những lối lầm của tà tư duy cũng không thành công; phương pháp thứ ba quên cũng không thành công; phương pháp thứ tư truy nguyên cũng không xong thì hãy nỗ lực lấy tâm đè nén cho được mới thôi. Đây là phương pháp cuối cùng “không được đầu hàng, làm cho được mới thôi”. Theo như Đức Phật thì phải cố gắng tới mức độ nào:” dantebhidanta madhaya jivhaya talum ahacca – nghiến răng mà làm”.

   Nếu khi chúng ta suy nghĩ những suy nghĩ bất thiện thì phải nghiến răng giải quyết với nó. Răng nghiến với tâm không muốn chấp nhận. Cũng tương tự như khi chúng ta không muốn chấp nhận một người nào chúng ta nghiến răng tỏ lộ. “ Jivhaya talum ahacca” có nghĩa là lưỡi uốn cong chạm đến nóc họng, suy nghĩ rằng ta không muốn trở thành như thế, lấy tâm đè nén tâm để loại bỏ được những suy nghĩ bất thiện. Đây là cách mà Đức Thế Tôn đã thuyết lên trong bài kinh “Vitakkasanthanasutta”(kinh an tầm). Tôi xin nói lại tuần tự năm phương pháp này, phương pháp để loại bỏ tà tư duy, suy nghĩ sai lạc:

  1. Thay đổi đề mục
  2. Suy nghĩ về lỗi lầm
  3. Quên nó đi
  4. Truy nguyên
  5. Đè nén tâm, nỗ lực cho bằng được.

   Nếu thực hiện năm phương pháp này ta có thể thoát khỏi hoàn toàn những suy nghĩ bất thiện của tâm và sở hữu được một khả năng làm chủ những suy nghĩ. Khả năng này khiến cho việc khiểm soát được những suy nghĩ mà ta không mong muốn. Tốt đẹp biết bao nhiêu mà kể? Bình thường không phải chúng ta vẫn thường suy nghĩ đó sao. Suy nghĩ này chúng ta biết được là những suy nghĩ bất thiện nhưng mà vẫn vô tình suy nghĩ.

   Ví dụ: người sợ ma vào ban đêm họ vẫn tình cờ nghĩ đến ma, họ đang tự nghĩ đến những điều khiến cho họ sợ hãi. Tự dưng nghĩ những điều lung tung rồi tự mình lại sợ hãi. Nhiều người quá sợ hãi đi ngủ trùm đầu trùm đuôi vã cả mồ hôi . Do tình cờ suy nghĩ những điều không muốn và phải chịu bị suy nghĩ quấy rầy vậy.

   LỢI ÍCH CỦA KHẢ NĂNG KIỂM SOÁT SUY NGHĨ

   Khi tình cờ suy nghĩ đến những suy nghĩ không mong muốn, hãy thực hành theo những cách này mà có thể loại bỏ được suy nghĩ, đạt được năng lực cí thể nghĩ những điều ta muốn nghĩ, không nghĩ điều ta không muốn. Hãy thực hành và cảm nhận.

   Nếu đạt được vậy, chúng ta có thể từ bỏ được tất cả những dính mắc vào tham ái, tự do, thoát khỏi các kiết sử (trói buộc và sai khiến). Tất cả những quan điềm (tà kiến), ngã mạn rơi rụng và cuối cùng sẽ giải thoát khỏi mọi khổ đau. Đức Phật đã thuyết giảng để cuối cùng sẽ được tự do giải thoát khỏi mọi khổ đau.

   Tự khi nào xuất hiện khổ đau? Do khởi sinh suy nghĩ mà xuất hiện. Không phải ngày qua ngày mọi người suy nghĩ đó sao? Vì những suy nghĩ này mà họ chịu đau khổ. Khi họ có thể từ bỏ được những suy nghĩ bất thiện này thì đồng thời họ cũng có thể loại bỏ được tham ái (nguyên nhân của khổ đau). Họ có thể tự do khỏi kiết sử ràng buộc, có thể từ bỏ đượn ngã mạn. Nếu như tự do thoát khỏi những tham ái, ngã mạn và kiết sử thì tất cả những khổ đau gặp phải nơi con người, tất cả những khổ đâu gặp phải trong luân hồi sẽ chấm dứt. Bài Kinh Vitakkasanthana (An tầm ) là bài Kinh được Đức Phật thuyết lên liên hệ đến những suy nghĩ của tâm.

 

   PHẦN KẾT:

   Vậy nên hội chúng những người kinh Pháp, thính Pháp thân mến!

   Đối với những suy nghĩ của tâm thường xuyên xuất hiện nơi mình hàng ngày, cầu chúc cho tất cả có thể tự mình nỗ lực quyết định để có được những suy nghĩ chân chánh và có thể kiểm soát được những suy nghĩ sai lạc bằng năm cách trên. Cầu chúc mọi người có thể thực hành được và chấm dứt được mọi phiền não khổ đau.

   Sadhu! Sadhu! Sadhu! Lành thay!

 

  Bhaddanta Nandamalabhivamsa

 Aggamahapandita Mahathere

 Tỳ khưu Nguyên Tuệ chuyển ngữ

 Đào Xuyên, tháng 1/2015

 

ĐẠO TRÀNG GIÁC BẢO HOA

Hồi Hướng Phước Thiện

 

     Với phần phước thiện

pháp thi thanh cao này xin

hồi hướng đến Chư Thiên ở

khắp mười phương, nhất là

vua trời đế thích và tứ đại

thiên vương, chư diêm

vương, cầu mong các ngài

hoan hỷ thọ lãnh pháp thí ấy.

Sau khi đã thọ lãnh rồi, xin

hộ trì cho cha mẹ, thân bằng

quyến thuộc của chúng tôi

được an vui khỏe mạnh, tật

bệnh tiêu trừ, tai qua nạn

khỏi và được tiến hóa trên

đường Phật đạo. Xin hộ trì

cho tất cả chúng sanh được

thanh bình, hạnh phúc, mưa

thuận gió hòa, người người

thương yêu lẫn nhau, dìu dắt

nhau vương tới hạnh phúc tối thượng.

 

       Cầu mong cho tất cả

chúng sanh đều được thắm

 nhuần giáo pháp của bậc

đạo sư và cầu mong tất cả

chúng sanh được nếm hương

vị giải thoát. Cầu mong cho

giáo pháp của đức Phật toàn

giác được trường tồn trong

thế gian và cầu mong cho tất

cả chúng sanh luôn có lòng

kính mộ giáo pháp ấy.

 

        Được sanh là người,

được sống khỏe mạnh, an

lành, với đầy đủ lục căn,

được sống trong thời kỳ và

trong quốc độ có thể nghe

giảng dạy giáo pháp, được

sống trong giáo pháp,

 

Đó là cơ hội ngàn vàng

 

Mà hàng triệu người không

thể có

 

Qủa thật là y hữu

 

Đã được điều rất khó thành

đạt ta nên kiên trì tinh tấn, tận

dụng nghị lực và khả năng đề

thoát ra mọi hình thức khổ

đau của kiếp sinh tồn,

 

 

 

 

 



ĐÁNH GIÁ SẢN PHẨM

Sản phẩm đã xem

0₫ 0₫
Facebook Instagram Youtube Top