} catch (e) {}; //]]>
Giỏ hàng

Khai thị sự thật- Viên Minh

Thương hiệu: Khác
|
99,000₫

1.Sư thật về khổ

Tiêu đề
Hotline hỗ trợ: 096 491 6006
|
Số lượng

Học và hành

1.Sự thật về khổ

Học và hành

Trước khi đi vào nội dung Sự Thật mà Đức Phật khai thị, chúng ta cần biết thế nào là Pháp học và Pháp hành. Học và hành không phải là một cũng không phải hai, mà chúng phải hoàn toàn nhất qán. Không phải học Kinh Luận hay Chú Giải là pháp học, không phải áp dụng một pháp môn hay phương pháp của thiền phái nào đó để tu tập là pháp hành như một số người lầm tưởng, vì như vậy vẫn chỉ là học và hành theo kiến thức vay mượn từ kinh điển truyền tụng đã bị biến đổi qua nhiều đời hơn là y cứ trên sự thật hiển nhiên nơi thực tại hiện tiền mà đức Phật đã khai thị.

Thực ra, học chính là đang hành và hành chính là đang học. Học ở đây có nghĩa là khám phá để thấy ra nguyên lý chân thật của đời sống và hành là sống đúng với chân lý đó. Như vậy nhận thức và hành động luôn hỗ tương nhất quán, không tách rời nhau trên cùng đối tượng thực tại ngay đây và bây giờ. Khi sống trải nghiệm, chiêm nghiệm và thấy ra đạo lý của đời sống thì mỗi người sẽ tự biết sống đúng tốt như thế nào, đó mới chính là học và hành nhất như, không phải áp dụng theo lý thuyết Kinh Luận hay bất cứ phương pháp chế định nào của bất kỳ ai rồi nỗ lực tu luyện để mong đạt được sở đắc lý tưởng mong cầu.Đối tượng của học và hành theo pháp  chính là thực tại thân tâm trong đời sống, nơi mọi sự mọi vật đang diễn ra đúng trình tự vận hành của pháp, vì vậy chỉ cần thấy pháp đúng và sống đúng pháp chính là pháp học và pháp hành:”Thấy tức là hành” hay “Tri hành hợp nhất”, không có pháp hành nào ngoài sự thấy biết chân thực, thấy đúng và hành đúng không thể tách rời nhau.

Người học Đạo thường muốn tích lũy thật nhiều kiến thức Kinh Luận, nhưng càng ôm đồm quá nhiều khái niệm ngữ nghĩa càng đòi hỏi phải tưởng tượng, suy luận hơn là thấy biết thực, mà tưởng tượng, suy luận lại thường lệch ra ngoài sự thấy biết chân thực, trong khi thấy biết chân thực phải cần trải nghiệm thực địa. Học Kinh Luận thường thu thập những kiến thức cao siêu ngoài tầm thấy biết, chỉ nắm bắt bằng lý trí nên đành phải suy luận theo ý mình. Tưởng tượng, suy luận rồi đặt ra phương pháp để hành thì dù có tinh tấn đến đâu cũng không thể nào giác ngộ.

Ngược lại, hành cần phải trải nghiệm qua thấy biết chân thật trên thực tại đang là mới được.

Thí dụ:Đang thở, trọn vẹn tỉnh thức biết rõ(tuệ tri) diễn biến toàn diện sự thở vô thở ra:Đó là học mà cũng chính là hành.Trong Kinh Đại Niệm Xứ, Trường Bộ, đức Phật dạy rất rõ:”Tỉnh giác vị ấy thở vô, tỉnh giác vị ấy thở ra. Thở vô dài vị ấy rõ biết thở vô dài, thở ra dài vị ấy rõ biết thở ra dài…Cảm nhận toàn thân khi thở vô, vị ấy học, cảm nhận toàn thân khi thở ra, vị ấy học…”Vị ấy rõ biết tức tuệ tri(pajanati) thấy biết chân thực và vị ấy học(sikkhati) bằng cách cảm nhận trọn vẹn(toàn thân) sự thở. Như vậy “rõ biết” và “học” ở đây đang có nghĩa là hành. Pháp học pháp hành không khấc. Thấy biết và diễn biến của sự thở trọn vẹn với nhau trong tỉnh thức, không phải là hai, không còn phân chia năng sở.Nhưng vừa xen tưởng tượng của kiến thức”đây là sắc đi”, “đây là danh biết” vào liền bị ngăn che bởi khái niệm giả định. Hoặc như nghe nói món Pizza rất ngon, nhưng chưa từng thưởng thức liền hiện ra cái bánh Pizza trong tưởng tượng, đó không phải là bánh Pizza thực. Đó chỉ là thu gom kiến thức rồi biến thành khái niệm ảo, không phải trải nghiệm thực để thấy biết bánh Pizza như thế nào, không phải học và hành hợp nhất nên không thể có chánh tri kiến.

Vậy, chỉ có trọn vẹn thấy biết chân thực khi trải nghiệm và chiêm nghiệm thực tại đang là. Cái được thấy biết thực không thể nào là cái đã là hay sẽ là, dù nhờ về quá khứ hay tưởng đến tương lai thì đối tượng đó vẫn phải được trình hiện ngay đây và bây giờ. Hành cũng vậy, không thể hành cái đã qua hay cái chưa đến,”chỉ có pháp hiện tại, tuệ quán chính là đây”.Vậy mà nhiều hành giả vẫn thường hành theo cách lặp đi lặp lại một công thức đã định sẵn để mong đạt được mục đích”sẽ là” trong kiến thức đầy tính tưởng tượng, suy luận. Ngược hẳn với đức Phật khi khai thị, dù bằng cách nào, Ngài luôn chỉ ra cho thấy sự thật đang là. Cái thấy đó mới thực sự là thấy Pháp. Ngài không tưởng tượng và cũng không giờ chỉ ra cái làm cho người nghe phải tưởng tượng.Khi đã thấy thực tánh, thì liền sống trọn vẹn tỉnh thức trong thực tánh gọi là hành, không phải hành để mong trở thành gì cả.

Phần lớn chúng ta hành như kiểu đứa bé đang tắm trong bồn nước nhưng không biết đó là nước nên muốn tìm nước, hỏi  mẹ nước ở đâu, được mẹ chỉ cho mới thấy ra mình đang ở trong nước. Pháp hay Sự thật mà đức Phật khai thị cũng vậy, không cần tìm kiếm đâu xa, chỉ cần trở về thấy biết ngay nơi thực tại đang là. Pháp chỉ thực như chính nó đang là, còn tưởng tượng, suy luận qua kiến thức vay mượn rồi nỗ lực hành trì để mong  đạt tới thì chắc chắn không thể chạm đến Sự Thật. Cho nên pháp học là phải học trên thực địa, không phải học để thu gom kiến thức vay mượn. Đa văn không phải là thu lượm cho nhiều kiến thức Kinh Luận mà là sống trải nghiệm nhiều, trải nghiệm thật, ngay nơi thực tại thân-tâm-cảnh hiện tiền mà thôi. Biết trải nghiệm chiêm nghiệm để thấy ra Sự Thật mới là pháo học pháp hành đích thực.

Nói về Pháp học, nếu có học hết tất cả Kinh Luận trên đời mà không trải nghiệm Sự Thật thì càng nhiều sở tri càng thêm chướng ngại. Khi học điều gì trong Kinh Luận chủ yếu vẫn là có thấy điều gì đó trên thực tế hay không.Vi Pháp là Sự Thật hiển nhiên có thể thấy ngay, không bị bóp méo bởi tưởng tượng qua  khái niệm ngữ nghĩa mà kiến thức sách vở cung cấp. Do đó, đức Phật dạy trong Kinh Mật Hoàn”Những gì có tưởng thì có suy tầm, những gì có suy tầm thì có hý luận.Do hý luận làm nhân, một số hý luận vọng tưởng ám ảnh một người”.Không phải chúng ta hoàn toàn chối bỏ Kinh Luận vì nó vẫn còn giá trị để tham khảo mà lắm lúc chỉ một câu Kinh đơn giản chỉ thẳng Sự Thật cũng đủ giúp chúng ta giác ngộ. Nhưng đừng quá lệ thuộc vào Kinh Luận, vì bất cứ điều gì cũng cần thấy ra hai mặt “vị ngọt” và “sự nguy hại” mới có thể “ xuất ly”.

Nói về pháp hành thì thường được hiểu là tuân thủ một phương pháp chế định nào đó để đạt được một mục đích ở tương lai, nhưng Đức Phật đã cảnh báo rằng”Không ước vọng tương lai”, vì vậy hành là soi sáng thực tại thân-tâm-cảnh ngay đây và bây giờ.Pháp là chân lý- là Sự Thật muôn đời- nên chỉ cần thấy ra để sống thuận Pháp, không phải hành là áp dụng sở tri sách vở để mong tác thành sở đắc cho riêng mình trong khi tất cả pháp đều vô ngã. Bản ngã ảo tưởng mà có thể rèn luyện để tác thành chân lý được sao?Chân lý đã có sẵn nên chỉ cần thấy ra để không còn sống trong ảo tưởng, mới gọi là hành. Như vậy vấn đề là thấy ra hay không thấy ra Sự Thật chứ không phải hành theo phương pháp chế định để mong đạt được điều gì trên đời. Hành theo khuôn mẫu chế định thì chỉ có thể đạt được kinh nghiệm cục bộ trong tục đế nên chỉ tạo thêm trói buộc mà thôi.Điều này cần phải thấy thật rõ mới không bị sai lầm.

Pháp được Phật khai thị là gì?

Pháp mà đức Thế Tôn khéo tuyên thuyết, khéo khai thị(Svakhato Bhagavata Dhammo) là có thể thấy ngay (sanditthiko), không qua thời gian(akaliko), trở về mà thấy(ehipassiko), ngay trên thực tại (opanayiko), mà bậc trí mỗi người đều có thể tự chứng(paccattam veditabbo vinnuhi).

Thấy ngay(Sanditthiko):Thấy ngay vì Pháp được đức Thế Tôn chỉ thẳng là thực tại hiện tiền- đang trình hiện ngay đây.Nó hiển nhiên đầy đủ mọi yếu tính như nó đang là, nhưng ai còn nhiều bụi trong mắt không thể nào thấy được. Với người ít bụi trong mắt Đức Phật chỉ đánh thức tánh biết nơi họ thì họ lập tức trực nhận Sự Thật.Bụi trong mắt chính là khái niệm, tư tưởng, quan niệm chủ quan trong lý trí mỗi người.

Không qua thời gian(Akaliko):Pháp là thiết thực hiện tại nên không cần phải trải qua thời gian mới tìm thấy, cũng không cần mong cầu trở thành hay nỗ lực tu luyện để đạt đến ở tương lai.Vậy tại sao tu lại cứ mong cầu sở đắc?Như tu để đạt Niết-bàn, để thành Chánh quả, để cầu giải thoát, đê mong siêu sinh về cõi vĩnh hằng…Nhưng đó chỉ là ảo tưởng của bản ngã được phóng chiếu vào tương lai, đòi hỏi thời gian để vươn tới, không phải là thiết thực hiện tại, nên càng mất thời gian để vươn tới càng xa rời Pháp Thực Tại Hiện Tiền. Thiền Tông có câu:”Cước căn bất điểm địa”. Ví như cái quạt trần đang thấy đó mà còn ngoài tầm với, nhảy lên để với thì chân hổng đất mà vẫn chưa với tới, huống hồ là Niết-bàn trong tưởng tượng thì làm sao mà với tới được. Thế nhưng nhiều lúc tu lại là nỗ lực với bắt cái mà mình không thực biết là gì. Bỏ quên chỗ thực đang trải nghiệm ngay đây để nỗ lực tìm cầu cái mực tiêu trong ảo tưởng nên mới hổng chân. Đó chính là bản ngã đang tạo ra thời gian chỉ để lãng phí vô ích trong khi Pháp thì thấy ngay không qua thời gian.

Trở lại là thấy(Ehipassiko) ngay nơi thực tại đang là(Opanayiko):vì Pháp là thực tại hiện tiền ngay nơi thân-thọ - tâm-pháp nên không cần phải tìm kiếm mà chỉ cần trở về nhìn lại thực tại là thấy ngay.Như người đang ở trong nước, đừng ngóng vọng đâu xa để tìm nước mà chỉ cần nhìn lại ngay đó là thấy. Sinh tử luân hồi hay tịch tịnh Niết-bàn thì cũng chỉ trở về ngay nơi thân một trượng này mà thấy, như Đức Phật đã dạy.

Người trí tự mình chứng ngộ(Paccattam veditabbo Vinnhhi):Vì Pháp hiển hiện ngay nơi thực tại thân-thọ-tâm-pháp nên mỗi người trí đều có thể tự mình chứng ngộ. Đó mới thực sự là pháp học và pháp hành đúng nghĩa như Đức Phật khai thị.Pháp học chính là thực tại hiện tiền đó. Pháp thực tánh đang vận hành nơi mỗi người chính là pháp học để họ tự thấy ra, không cần tìm kiếm đâu khác. Khi thấy đâu là chánh pháp ngay nơi thực tại thân tâm liền sống thuận pháp, đó là pháp hành. Không nên học theo cách bắt chước pháp chế định của người khác rồi áp đặt lên thực tại mà hành, vì pháp thực tánh thì có thể trực nhận ngay không qua phương pháp đòi hỏi thời gian nỗ lực áp dụng với mong cầu đạt được ở tương lai. Đó không phải là Pháp thực tại hiện tiền Đức Thế Tôn khai thị(Svakhato Bhagavata Dhammo) mà do những người mệnh danh”đạo sư”,”thiền sư”,”luận sư”.. chế tác ra vô số phương pháp, vô số phương tiện dẫn dụ người khác theo mình tu luyện với chiêu bài đạt được lý tưởng mơ ước ở tương lai. Nhưng rồi hậu quả chỉ là phiền não, khổ đau, căng thẳng, thất vọng, thậm chí tẩu hỏa nhập ma. Còn nếu có đạt được kinh nghiệm cục bộ nào đó thì cũng chỉ thêm ngã mạn, dính mắc, chìm đắm vào sở đắc của bản ngã mà thôi. Cho nên, chúng ta cần phải thấy pháp thực tại hiện tiền mà Đức Phật thật sự từ bi khai thị.

Trong lời Phật dạy, từ ngữ không quan trọng đừng ngồi tìm nguồn gốc từng lời từng chữ mà phải thấy ra điều Ngài muốn khai thị là gì.Sự Thật Phật khai thị thì luôn ở ngay nơi mỗi người nhưng do không thấy nên Ngài phải chỉ cho mới thấy.Thí dụ, đang ngồi trước bình nước nhưng không biết đó là nước uống nên muốn tìm nước đâu để uống. Có người biết chỉ cho bình nước ở trước mặt thì liền thấy ngay, không qua thời gian, không cần tìm đâu xa chỉ cần nhìn lại là thấy, thấy chính nước đang hiện thực chứ  không phải nước tưởng tượng nào khác. Uống nước thì mỗi người liền tự biết, không cần nhớ lời mô tả, không cần nhớ tên gọi là gì… chỉ thấy nước, uống nước khi đang khát mới là điều thiết yếu. Khi Đức Phật khai thị, ai ngay đó thấy ra Sự Thật thì liền sống với Sự Thật ấy, nên mỗi người có thể tự thấy, tự trải nghiệm và chứng nghiệm, chẳng cần theo phương pháp chế định của ai khác để phải cố hành trì theo tiêu chí của họ đề ra.

Thứ nhất, chúng ta cần lưu ý điều này:Pháp luôn hiển hiện ngay đây. Ai có thể tự thấy thì không cần qua ngôn từ mô tả của người khác. Nếu chưa thấy mà có người chỉ thẳng không cần dùng lời cũng vẫn thấy được. Tại sao lại quan trọng hóa ngôn từ đến thế. Chấp ngôn từ thì chẳng phải không những tự đánh lừa mình mà còn lừa gạt người khác đó sao!

Thứ hai, khi Phật thuyết Pháp, chính âm thanh, cử chỉ, ánh mắt, tâm thái v,v… diễn đạt nhiều hơn lời nói, nhưng quan trọng nhất vẫn  là sự cảm ứng tương thông giữa tâm Ngài với tâm người nghe lúc đó.Thí dụ đứa bé nghe chiếc máy lặp đi lặp lại câu”mẹ thương con…” đâu bằng chính người mẹ im lặng nhìn con với tình thương yêu thật sự, nó sẽ cảm nhận tình thương yêu đó ngay lập tức, không qua ngôn từ.Người xưa nói”ba lần sao đã sai bản gốc huống chi Kinh điển trải qua hàngngàn năm truyền tụng tránh sao khỏi sai lệch, huống chi không ít nhà chú giải, các luận sư vốn gốc Bà-la-môn đã vô tình hay cố ý biến chánh pháp thành triết học hoặc tín ngưỡng xa rời tính thực tế và giản dị ban đầu mà Đức Phật khai thị.

Tóm lại, Pháp là Sự Thật, không phải ngôn từ. Theo ngôn từ rồi tạo ra khái niệm mà tu thì làm sao có thể thấy được Sự Thật!Cũng như đang đói mà nghe người khác kể món ăn ngon cách mấy cũng không thể no được, thậm chí chỉ làm đói thêm thôi. Cũng vậy, muốn chấm sứt luân hồi sinh tử thì phải biết luân hồi sinh tử là gì, không thể cứ ngồi phân tích ngữ nghĩa, luận giải Niết-àn mà giác ngộ được!

Sự Thật về khổ

Bây giờ chúng ta bắt đầu nói về Sự Thật thứ nhất là khổ.Ai cũng muốn thoát khỏi khổ, nhưng có thấy đau khổ thật sự là gì và phát sinh từ đâu không?Vì sao chỉ muốn thoát khổ mà không muốn thoát khỏi lạc?Thoát khỏi khổ nhưng rồi dính mắc vào lạc thì cũng vẫn bị trói buộc, tức là còn khổ dài lâu. Bởi vì muốn thoát khỏi khổ thì phải thoát khỏi trói buộc. Nhưng trước hết phải biết cái gì trói buộc, nó đến từ đâu, ngẫu nhiên hay do tha lực, Thần linh?Nếu không biết rõ ai trói buộc, ai thoát khỏi trói buộc và thoát khỏi cái gì…thì không thể nào giác ngộ giải thoát được. Ví dụ, khi bị bệnh thì phải biết bệnh gì, bệnh ở đâu và bệnh phải có thực mới chữa, không thể tưởng tượng ra bệnh để chữa được. Bệnh là sự kiện thực, nhưng nếu tự mình không biết bệnh gì thì phải nhờ bác sĩ khám thực địa, chỉ ra cho biết bệnh gì, cách chữa trị ra sao mới có thể chữa lành.

Cũng vậy, chúng sanh khổ nhưng không tự mình biết khổ là gì, do đâu, nên Đức Phật mới tùy căn cơ mỗi người là khai thị. Ngài chỉ rõ cái khổ đang diễn ran gay nơi người ấy nên người ấy liền nhận biết dễ dàng, Ngài không nói những điều chỉ gây ra tưởng tượng. Pháp nào không hiện thực mà chỉ có trong tưởng tượng đều là ảo, cho dù nói đến Cực Lạc, Niết-bàn hay cõi vĩnh hằng”Thường Lạc Ngã Tịnh” gì gì đi  nữa.Điều cần được thấy nơi thực tại thân-thọ-tâm-pháp chính là Sự Thật của cái khổ ngay tại đây và bây giờ, không phaỉ vọng cầu lý tưởng an lạc ở một tương lai vô định.

Có phải tu để thoát khổ?

Khi được Bà-la-môn Kassapa hỏi mục đích tu hành dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn có phải để thoát khổ không, Đức Phật trả lời không. Vậy tu hành để làm gì?Đức Phật dạy để thấy khổ, biết khổ, hiện quán khổ và thực chứng khổ. Như vậy thoát khổ không có nghĩa là tránh khổ để được lạc, mà là giác ngộ sự thật khổ là gì, do nguyên nhân nào mà có.

Trong Bốn Sự Thật, Khổ là Sự Thật thứ nhất(Khổ Đế).Nguyên nhân sinh khổ là Sự Thật thứ hai(Tập Đế).Không tạo nhân sinh khổ thì không có khổ là Sự Thật thứ ba(DIệt đế) và chứng ngộ ba Sự  Thật trên là Sự Thật thứ tư(Đạo Đế).Như vậy không phải thoát khổ mà là thấy khổ và không tạo nhân sinh khổ nên không còn khổ gọi là DIệt Đế.Diệt Đế chính là Niết-bàn tịch tịnh, không sinh không diệt, không thường không đoạn.Sự thật thứ tư-Đạo Đế-mới quan trọng:vừa thấy ra khổ, thấy ra nguyên nhân sinh khổ, vừa thấy ra Niết-bàn không có nhân sinh khổ. Tất cả chỉ là thấy ra Sự Thật, đó là giác ngộ, mà giác ngộ thì không còn gì trói buộc nên gọi là giải thoát chứ không phải cố tu để”ly khổ đắc lạc”. Khởi ý muốn thoát   khổ đã là nhân sinh thêm khổ rồi, vì đó là tâm sân. Ngược lại   muốn tu để được lạc cũng là nhân sinh khổ khác, đó là tâm tham. Như vậy, chuyển mê khai ngộ thì đúng nhưng ly khổ đắc lạc chưa hản đã đúng. Khổ là một Sự Thật, chính vì cảm giác khổ là sự thật rất khó chịu nên mới muốn thoát khổ.Dù   khổ có thể xuất phát từ ảo tưởng, nhưng cảm thọ khổ do tưởng tạo ra lại là một Sự Thật. Chỉ cần thấy ra và chấm dứt ảo tưởng, làm sao chứng ngộ được Sự Thật?

Cảm giác khổ và nhân đưa đến”khổ khổ”

Khổ xuất phát từ thân tâm này, không phải từ bên ngoài đến, vì vậy cần nhìn lại thực tại thân tâm trong bối cảnh của nó để thấy khổ và nguyên nhân của khổ mặt mũi ra sao, đâu phải cứ cho đời là khổ rồi đi tìm lạc ở một nơi lý tưởng nào đó bên ngoài. Phải thực sự thấy khổ xuất phát từ chính mình trước đã.”Mình”, trên thực tế, chỉ là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Khổ phát sinh từ mắt, tai,mũi, lưỡi, thân, ý khi tiếp xúc với sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.

Thí dụ:Đám tây vào bàn thấy đau, sờ một tấm nhung thấy êm; đau là cảm giác khổ, êm là cảm giác lạc từ thân tiếp xúc với vật thể. Mắt nhìn thấy sắc, tai nghe âm thanh, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị vốn không khổ không lạc, nhưng thân xúc của các giác quan này vẫn thọ khổ thọ lạc, và đặc biệt khi ý biết pháp rất dễ sinh lạc, khổ, hỷ, ưu và xả tùy theo từng đối tượng.

Khi mắt tiếp xúc với sắc, nhãn thức tiếp nhận hình ảnh.Nếu nhắm mắt lại, hình ảnh đó vẫn hiện ra, nghĩa là sắc đó đã được sao lưu vào bên trong. Hình ảnh được sao lưu vào bên trong đó gọi là “pháp trần”.Pháp này trở thành đối tượng của ý gọi là ý tượng(vật khái niệm), ý tượng biến thành ý tưởng(nghĩa khái  niệm), và gắn nhãn thành tên gọi(danh khái niệm) rồi từ những khái niệm này hình thành tư tưởng và quan niệm v.v… Cũng vậy, tại tiếp xúc với âm thanh, mũi với hương, lưỡi với vị, thân với vật xúc chạm đều chuyển đối tượng khách quan bên ngoài thành “pháp” chủ quan bên trong để làm đối tượng cho ý. Pháp có nhiều loại, nhưng loại”pháp trần” hay “cảnh pháp” này đơn giản chỉ là “tướng” của sắc, thanh, hương, vị, xúc… đã được tưởng đưa vào bên trong. Quá trình từ sắc thanh hương vị xúc đưa vào thành hình ảnh bên trong đó gọi là quá  trình khái niệm hóa.

Vì vậy, suy nghĩ không nhất thiết phải qua từ ngữ.Suy nghĩ có thể chỉ dựa trên những kinh nghiệm về ngoại cảnh, những ý tượng đã được nhận dạng thành nội cảnh”pháp”, đó là suy nghĩ bằng “pháp” khi con vật, đứa bé sơ sinh hoặc khi con người chưa chế định ngôn ngữ.

Khi năm giác quan(ngũ căn) tiếp xúc với năm đối tượng bên ngoài(ngũ trần) thường phát sinh 3 cảm giác:khổ, lạc, xả(không khổ, không lạc). Và khi ý tiếp xúc với pháp cũng có 3 cảm xúc ưu, hỷ và xả(không ưu, không hỷ). Như khi năm giác quan tiếp xúc với năm đối tượng tương ứng, có cảm giác khó chịu gọi là cảm thọ khổ, hoặc dễ chịu gọi là cảm thọ lạc, cũng có khi thấy bình thường, không khó chịu hay dễ chịu gì cả, gọi là cảm thọ xả; ba cảm giác này xuất phát từ thân. Hoặc khi ý tiếp xúc với đối tượng đã được khái niệm hóa cũng có cảm xúc hỷ, ưu và xả thì ba cảm xúc này xuất phát từ tâm. Những sự tiếp xúc này, những cảm giác này là hiện thực, có thể thấy biết ngay không qua thời gian, ai cũng có thể ngay đây tự mình thấy biết, không cần đợi đến ngày mai. Nếu không thấy chỉ vì tâm mải theo đuổi những tưởng tượng mà quên đi thực tại. Vậy, trước tiên cần xác nhận các pháp là thực tại hiện tiền mà ai cũng có thể thấy được, không phải đi tìm kiếm ở đâu.

Khi có cảm giác, thường phát sinh thích hay không thích.Thí dụ không ai thích khổ, nhưng nếu đơn giản không thích thôi cũng chưa sao, chỉ khi không nhẫn được, muốn bằng mọi cách loại bỏ cái khổ đó đi, mới sinh ra bức xúc, căng thẳng. Ý muốn loại bỏ cái khổ hay không muốn khổ tồn tại này gọi là phi hữu ái.

Thí dụ khi ngồi thiền, chân bị đau, tâm khởi lên ý muốn chống lại cơn đau.Ý muốn chống lại cơn đau không những không chấm dứt được cơn đau mà còn cảm thấy khổ hơn.

Có những điều thực ra không khổ, chỉ vì ý muốn chống lại mà sinh ra khổ, như muốn ở trong phòng một mình cho yên tĩnh một ngày thì ngày đó cảm thấy rất an lạc, nhưng nếu bị bắt nhốt cũng trong phòng đó  một ngày thì lại cảm thấy rất khổ. Việc ở trong phòng thì giống nhau nhưng thích thì thấy lạc mà ghét thì thấy khổ ngay.Cùng là sự việc ở trong phòng giống nhau nhưng khổ lạc khác nhau tùy thái độ của mỗi người.

Càng chống lại cái khổ, muốn khổ mau chấm dứt thì chỉ làm cho khổ càng gia tăng. Càng muốn thoát khổ thì càng bị khổ trói buộc, đó là thái độ ứng xử sai lầm khiến cho khổ tâm lý gia thêm vào khổ sinh lý, nên được gọi là khổ khổ trong Khổ Đế.

Như người nông dân làm việc ngoài nắng thấy vui. Còn anh thư sinh ra nắng với bao nỗi sợ:sợ nóng, nào sợ đen, sợ bị oxy hóa v.v… nên chỉ nghĩ đến thôi là đã thấy khổ rồi. Cái khổ này vốn không có, chỉ do tâm đối kháng, sợ hãi sinh ra thôi. Hơn nữa, không những sinh ra khổ mà còn mất đi đức tính kham nhẫn nữa. Trong mười ba-la-mật có đức tính nhẫn nại, vì có nhẫn nại mới không sinh tâm đối kháng nên không tạo thêm khổ trên khổ. Nhẫn nại là bình thản đón nhận cái khổ mà không khởi tâm chống lại, khổ thì vẫn khổ, những nhẫn nại được thì cái khổ đó không còn là vấn đề nghiêm trọng nữa.

Trở lại thí dụ ngồi thiền, hôm nào có ý chống lại cơn đau chân thì chân càng có cảm giác đau hơn, càng căng thẳng và khó chịu hơn. Thực ra, nếu bình thản không chống đối thì cơn đau sẽ dễ chịu hơn nhiều.Vì vậy có những cái khổ chỉ do tưởng tượng tạo ra, hoàn toàn không có thực. Thí dụ đang lau nhà với tâm hoan hỷ thì không sao, nhưng nếu nghĩ,”sao em mình không lau mà mình phải lau” thì lau tới đâu liền thấy khổ tới đó. Loại khổ này do tư tưởng tạo ra. Vậy có hai loại khổ, cái khổ khách quan do điều kiện tự nhiên mà có, đó là cảm giác khổ thật(khổ thọ), loại  khổ thứ hai do tâm lý phản kháng lại cảm giác khổ mà sinh ra, cái khổ này mới gọi là khổ khổ.

Vậy, thoát khổ là thoát khổ cái khổ tâm lý, chứ không phải thoát khổ khỏi cảm giác khổ sinh lý. Thoát cảm giác khổ sinh lý vẫn chưa phải là giải thoát, chỉ mới thỏa mãn bản ngã muốn lạc hoặc không muốn khổ mà thôi. Không nôn nóng thoát khỏi cảm giác khổ, chỉ cảm nhận nó một cách trọn vẹn thì khổ khổ không sinh.Nói cách khác, thoát khổ khổ thì chỉ cần thoát khỏi nguyên nhân sinh ra nó, tức thoát khỏi tâm sân- tư tưởng đối kháng của phi hữu ái. Phi hữu ái không sinh thì khổ khổ cũng không sinh, nhưng khi mong thoát cảm giác khổ, tức phi hữu ái đã sinh, thì chỉ làm gia thêm cái khổ tâm lý lên cái khổ sinh lý vốn là hậu quả tất nhiên do nhân trước đã tạo. Với khổ quả này chỉ cần thấy biết rõ ràng thì nó tự sinh tự diệt, không cần cố thoát để rồi chỉ tạo thêm nhân sinh khổ mới.Cũng giống như đã giương cung bắn rồi thì đừng mong mũi tên không bay ra. Muốn mũi tên không bay ra thì tốt nhất đừng bắn.

                                                                                                                                                                                  Đã gây nhân bất thiện

                                      Khi gặt quả khổ sinh                                                                                                                Lại không lo tỉnh ngộ

                                      Cố thoát càng vô minh                                                                              ỉ

                                                                                                                  

Vì vậy, chủ yếu là trọn vẹn cảm nhận cái khổ ngay đây và bây giờ mới thấu hiểu được lẽ tự sinh tự diệt của nó  mà không cần mất thời gian cố gắng”ly khổ đắc lạc”.Mong diệt khổ, tức đối kháng với khổ là đã tạo ra thời gian và thêm nhân sinh khổ. Thấy khổ như nó là, có sinh ắt tự diệt, không thêm nhân sinh khổ thì khổ khổ không sinh.

Ví như bác sĩ cho thuốc giảm đau, bệnh nhân không còn thấy đau nữa nhưng không chữa được nguyên nhân thì vẫn chưa hết bệnh. Nếu đau dạ dày do thăm ăn, chữa lành dạ dày lại càng tham ăn hơn, không biết rằng chính cơn đau dạ dày giúp chữa bệnh thăm ăn. Ngược lại càng tham ăn càng mong dạ dày thoát khổ.

Nếu không diệt tận gốc tâm sân phi hữu ái(tập đế) mà chỉ mong thoát khổ thì hết khổ này sẽ sinh ra khổ khác, khổ khổ chồng chất khó mà dừng lại.

Càm giác lạc và nhận đưa đến “hoại khổ”

Khi có cảm giác lạc-sung sương, hạnh phúc-không ai muốn thoát, mà chỉ muốn giữ mãi để hưởng thụ và rồi chìm đắm trong đó. Cho nên ai cũng muốn thoát khổ được lạc nhưng lạc mới là đáng sợ, mới cần thoát, còn khổ nên chịu đựng để học ra bài học phát huy trí tuệ và đạo đức. Trở lại thí dụ đau dạ dày là khổ, nhưng nhờ khổ mà ăn uống cẩn thận hơn, biết điều chỉnh tính tham ăn và học được rất nhiều bài học giá trị khác.Thì ra lo thoát khổ để được lạc mà không biết lạc mới đáng sợ hơn, đáng thoát hơn. Khi có cảm giác lạc, liền muốn giữ lại, muốn nó tồn tại mãi, tâm tham muốn”thường lạc”ấy gọi là hữu ái.Mặc dù đang lạc nhưng vì hữu ái nên vẫn thấy khổ.Nhiều người tu cứ muốn”ly khổ đắc lạc”, nhưng được lạc đâu phải đã hết khổ.

Khi lạc mà muốn giữ lại, không muốn nó mất đi sẽ sinh ra 3 trường hợp:

1.Sợ lạc hư hoại:Đang hạnh phúc mà mong nó trường tồn,sợ nó mất đi, sợ nó hư hoại, như vậy mặc dù đang lạc mà vẫn cảm thấy khổ. Ví như người có vợ đẹp, cứ nom nớp lo sợ vợ bị người khác dụ dỗ, sợ vợ ngoại tình v.v… nên ăn không ngon ngủ không yên.Đó là cái khổ do mất đi hạnh phúc đang có.

2.Lạc tự hư hoại:Đang hạnh phúc bỗng nhiên sụp đổ nên cảm thấy tiếc nuối, hụt hẫng, đớn đau, bức xúc…Ví như đang thỏa mãn trong danh vọng, địa vị bỗng bị cất chức, đang giàu có bỗng bị trắng tay.Đó là khổ vì bị mất đi hạnh phúc đang có.

3.Lạc tồn tại mãi:Được lạc thì lo tìm cách hưởng thụ, nhưng hưởng lạc lâu ngày cũng chán. Như ăn phở lúc đầu thấy thích nhưng cứ ăn phở mỗi ngày không ai chịu nổi. Cho nên nếu lạc không hoại thì tâm ham muốn”thường lac” cũng sẽ tự hoại, và loay hoay đi tìm cảm giác lạc mới. Đó là khổ do đã chán với hạnh phúc đang có.

Cả ba trường hợp lạc trên rốt cuộc đều là khổ.Khổ vì chưa mất nhưng sợ mất, khổ vì bị mất nên tiếc nuối hoặc khổ vì lạc mãi cũng chán chường.Ba cái khổ này đều xuất phát từ sự biến hoại nên gọi là hoại khổ

Điều này có liên quan đến những người muốn hành thiền để được an lạc. Được an lạc rồi thì có thực sự hết khổ không?Có an lạc rồi phải lo tu luyện hoài để duy trì kẻo mất cũng khổ. Hôm nào    ngồi thiền mà không an lạc được thì càng thấy khổ hơn, và nếu cứ lạc trú hoài thì cũng chán, rồi lại nỗ lực tìm cái lạc khác cao hơn. Hóa ra có định lạc rồi cũng rơi vào hoại khổ, bất mãn với hoại khổ lại sinh khổ khổ như ban đầu.

Rốt cuộc, những nỗ lực tu luyện để đạt được sở đắc gì cũng đều trở thành thất vọng, đúng không?Cần lưu ý rằng tất cả mọi nỗ lực hòng thoát khổ mà không chấm dứt nguyên nhân sinh khổ đều chỉ là ý chí sai lầm của bản ngã mà thôi.

Cảm giác xản lẽ ra là không khổ không lạc nên rất quân bình, ổn định.Cảm giác khổ có thể là duyên sinh ra khổ khổ, cảm giác lạc có thể là duyên sinh ra hoại khổ, còn cảm giác xả là không khổ không lạc sao cũng sinh ra khổ?Vậy mà trên thực tế, í tai chịu nổi cảm giác quân bình đó lâu dài được, vì trạng thái bình thường dễ sinh nhàm chán nên lại khởi tâm đi tìm kiếm trạng thái lạc để hưởng thụ, đó là bản chất mê muội của vô minh và ái dục- lòng khao khát được thỏa mãn.Phải có “món ăn” sắc,thanh,hương,vị , xúc gì đó mới được nên tâm lại lăng xăng tạo tác để thỏa mãn bản năng them khát.Tâm lăng xăng tìm kiếm đối tượng thỏa mãn lòng ham muốn vật chất đó là dục ái.Tìm kiếm lạc trú trong đối tượng thiền định hữu sắc đó là sắc ái, tìm kiếm lạc trú trong đối tượng thiền định hữu sắc đó là sắc ái, tìm kiếm lạc trú trong đối tượng thiền định vô sắc đó là vô sắc ái.Khăng khăng giữ dục ái, sắc ái, vô sắc ái đó là thủ, khi thủ đủ mạnh liền sinh ra hữu- tức ý chí vọng động tạo tác để rồi hậu quả là biến cảm giác xả bình lặng thành hành khổ- cái khổ do thái độ tạo tác để rồi hậu quả là biến cảm giác xả bình lặng thành hành khổ-cái khổ do thái độ tạo tác để mong trở thành cái ước muốn hay đạt được cái vọng cầu.

Tóm lại, có 3 nguyên nhân sinh ra khổ đế:

-Một là tâm sân-chống lại cảm giác khổ-sinh ra khổ khổ.

-Hai là tâm tham- muốn giữ cảm giác lạc-sinh ra hoại khổ.

-Ba là tâm si-phóng dật, trạo cử, bất an khi có cảm giác xả-sinh ra hành khổ.

Vậy có cố làm gì trong thái độ tham sân si cũng chỉ rơi vào khổ.Hoặc chỉ là đánh đổi cái khổ này sang cái khổ khác mà thôi.

Thí dụ:Một người thấy mình sống độc thân khổ quá nên nghĩ phải lấy vợ, lấy chồng sẽ được hạnh phúc.Có thể ban đầu khi   mới lấy vợ, lấy chồng thì rất hạnh phúc, nhưng do cố bảo vệ hạnh phúc, hoặc do nom nớp sợ mất vợ, chồng nên sinh ra hoại khổ.Lúc đó lấy vợ, lấy chồng rồi mới thấy có khi còn khổ hơn.Như vậy là chỉ đổi cái khổ độc thân sang cái khổ gia đình thôi, chẳng hơn gì cả.

Như vậy, nếu khởi niệm-tư tưởng, quan niệm-sai thì sẽ   kéo theo chuỗi sai lầm bất tận, và cứ thế  loay hoay mãi trong vòng sinh tử luân hồi, phiền não khổ đau.

Thấy ra bốn sự thật

Nhiều hành giả tưởng đâu đã hiểu Tứ Thánh Đế qua Kinh Luận, và đang nỗ lực tu hành để mong thoát khổ là đúng mà không biết rằng họ đang hành theo Tập đế, không phải Đạo Đế.Đối tượng của Đạo đế phải là Pháp hiện tại chứ không phải là lý tưởng nào ở tương lai mà cố nỗ lực tu luyện để mong đạt đến.Pháp thì phải thấy ngay, không qua thời gian, nhìn lại là thấy, ngay nơi thực tại hiện tiền mà mỗi người có thể tự chứng.Còn phương pháp hành trì nào đòi hỏi cố gắng tạo tác để trở thành hay đạt được lý tưởng ở tương lai thì đều là Tập đế chứ không phải Đạo đế.Tiếc rằng không phải ai cũng thấy được điều này, vì cứ tưởng rằng mình đang tu giới định tuệ làm sao sai được, nhưng không biết rằng giới định tuệ”đặt sai hướng”, phục vụ cho bản ngã tham sân si thì trở thành đại ngã chứ không thể giác ngộ giải thoát được.Chống lại khổ là sân, muốn được lạc là tham, vọng động tạo tác mà tưởng đang tu hành là si.Hành theo lối bản ngã tham sân si này thì vẫn mãi loay hoay trong Vô Minh,Ái Dục.Sao gọi là “Nhất hướng xả ly, ly tham, đoạn diệt,an tịnh, chánh trí giác ngộ Niết-bàn”được!

Mắt,tai, mũi, lưỡi và thân gọi chung thân thuộc Sắc pháp.Chánh niệm tỉnh giác hay trọn vẹn tỉnh thức trên các hoạt động của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân gọi là niệm thân.Cảm giác khổ/ưu,lạc/hỷ và xả gọi là thọ.Chánh niệm tỉnh giác trên các cảm giác, cảm xúc ấy gọi là niệm thọ.Phi hữu ái, hữu ái và dục ái gọi là tâm.Chánh niệm tỉnh giác trên các ái đó gọi là niệm tâm.Sự tương tác duyên hệ giữa căn, trần và thức gọi là pháp.Chánh niệm tỉnh giác trên các sự tương hệ ấy để thấy đâu là che lấp, trói buộc, đâu là rỗng lặng trong sáng gọi là  niệm pháp.

Khi mắt thấy sắc mà tâm đầy đủ chánh niệm tỉnh giác sẽ không phát sinh hữu ái, phi hữu ái, dục ái, tức lúc đó không có vô minh ái dục.Trong kinh Tứ Niệm Xứ, khi đi đứng ngồi nằm hoặc khi làm mọi việc mà có chánh niệm tỉnh giác, tức lúc đó đang niệm thân, nói đúng hơn là soi sáng-minh sát-thân hay trọn vẹn tỉnh thức với thân.Soi sáng thân tức chỉ có tâm đang biết thân hay danh đang biết sắc, chứ không có gì khác, không có cái ngã nào tu hay người nào đó hành cả.Đó gọi là tuệ thấy danh-sắc.Lúc đó chỉ thấy thực tại danh-sắc đang là, như khi đi chỉ thấy thân(sắc) di chuyển và cái tâm(danh) biết thân đang di chuyển mà thôi.Nếu một người hành thiền sổ tức để đạt được định, đạt được lạc trú thì trong đó vẫn còn cái ngã hành và cái ngã đạt như các đạo sĩ Bà-la-môn.Nhưng nếu chỉ soi sáng và cảm nhận diễn biến của sắc thân khi đang thở vô thở ra thôi, không có ai trong đó tức đang thực chứng tuệ thấy danh sắc.

Đừng cố tham phiền, chỉ cần tâm trong sáng

Không hành theo đối tượng nào nhất định mà chủ yếu là tâm soi sáng”thực tại đang là” để thấy ra Sự Thật.Thí dụ như đang đi thì diễn biến trong động thái đi là pháp thực tại đang là,(ngay cả từ”đi” cũng chỉ khái niệm tạm dùng thôi).Soi sáng thân chỉ đơn giản thấy thân như nó đang là, không phải để định, để an lạc hay bất cứ mục địch nào khác.Nếu chỉ thấy, chỉ biết thôi, không xen cái “ta” lý trí thêm thắt điều gì, không tưởng là, cho là, muốn phải là, mong sẽ là…. Thì mới thấy biết được thực tánh của thân.Như ngay đây, đang đi thì chỉ thấy sự di chuyển của sắc thân thôi, không xen vào tư tưởng, quan niệm, ảo tưởng “ta đi” hay bất cứ mục đích nào khác trong đó.Nếu không thì chỉ bỏ hình bắt bóng- bỏ thực tại đang là, chạy theo khái niệm ảo sẽ là.

Và như vậy, tại sao cứ phải”tham” thiền,”hành” thiền, mà không thấy biết tự nhiên khi đang thở, đang đi, đang tưới cây, đang quét nhà, đang nấu ăn v.v..? Tại sao lại phải đi tìm một chỗ lý tưởng để hành thiền theo một phương pháp chế định nào đó mới thấy thân?Trong khi đang nấu ăn, quét nhà hoặc làm mọi việc nhà mà vẫn thấy thân như nó đang là thôi thì ngay đó chỉ còn có diễn biến của sắc pháp, không có cái gọi là”thân ta” hay”ta hành” nào cả.Như Tỳ-kheo ni Patacara đi khất thực về, trong khi đang rửa chân đã chứng ngộ hoàn hảo tâm bất sanh(A-la-hán) chứ đâu phải lo rửa chân cho xong để đi tìm chỗ cố ngồi thiền cho mong mau đắc Quả!Chỉ cần đừng thêm ý đồ của bản ngã vào mọi sự, vì thêm vào bất cứ ý niệm nào thì không thể thấy Sự Thật được nữa.Nhưng không ít người nỗ lực hành thiền chỉ vì xuất phát từ ý đồ mong đạt được một sở đắc nào đó nên khó mà chứng ngộ được pháp tánh chân đế ngay đây và bây giờ!

Ngay nơi mắt thấy sắc, chỉ là thấy thôi, không thêm thắt gì, không mong cầu gì(không dục ái, hữu ái, phi hữu ái) là hoàn hảo, là viên mãn, là Đạo đế thì liền ngay đó thấy Diệt đế rồi còn tìm cầu gì  nữa!Vậy vấn đề là ở chỗ khi thấy, nghe… không trọn vẹn tỉnh thức mà để tham sân si khởi lên thì hoặc là muốn nắm giữ đối tượng lại để thụ hưởng, hoặc muốn loại bỏ nó đi để mong đắc Định, đắc Quả, nhưng cả hai đều thể hiện bản ngã tham sân si mà thôi.Vì sao?Vì không thấy rõ thực tại tức là si, muốn nắm giữ hoặc mong trở thành tức là tham, và nóng lòng loại bỏ tức là sân, hóa ra cứ mải loay hoay vẫn chỉ là Tập đế.

Còn đối với niệm thọ(Danh), khi có cảm giác khổ/ ưu thì cũng chỉ thấy khổ/ưu thôi, đừng cố diệt, cố loại bỏ khổ/ưu hay giải thoát khỏi khổ/ưu, vì như vậy là rơi vào phi hữu ái.Khi có cảm giác hoặc cảm xúc xả thì chỉ thấy xả thôi đừng khởi tâm mong cầu, tìm kiếm hay tạo tác để được gì khác vì như thế là rơi vào dục ái, sắc ái và vô sắc ái.

Điều duy nhất là chỉ thấy ra thôi, không thêm bớt gì cả- không tưởng là, cho là, muốn phải là hay mong sẽ là- vì thêm bớt theo tư kiến tư dục chỉ là động thái của Tập đế.Còn tu theo Đạo đế thì trong thấy chỉ thấy, trong nghe chỉ nghe thôi, không có ta nghe, ta thấy ở đó.

Trong trường hợp do tập khí ngủ ngầm(anusaya) của bản ngã mà khởi sinh dục ái, hữu ái, phi hữu ái thì cũng chỉ thấy đó là dục ái, hữu ái, phi hữu ái sinh diệt như nó đang là, đừng xen thêm tư kiến tư dục vào vì chỉ làm cho phức tạp hơn nên không thể thấy được Sự Thật như Đức Phật dạy trong niệm pháp.

Nhìn kỹ hơn, nội dung của sự thấy biết chân thực hay tri kiến thanh tịnh cần có 3 yếu tố, đó là giới, đình và tuệ.Được thể hiện qua tinh tấn, chánh niệm, tỉnh giác hoặc trong lành, định tĩnh, sáng suốt.

Giới-  Tinh tấn—Trong lành

Định-Chánh niệm- Định tĩnh

Tuệ-Tỉnh giác-Sáng suốt

Thỉnh thoảng chúng ta sẽ sử dụng cụm từ trong lành, định tĩnh, sáng suốt thay giới, định, tuệ và tinh tấn, chánh niệm, tỉnh giác cho dễ hiểu hơn.

Khi mắt thấy sắc hoặc thân cảm thọ khổ, lạc, xả  mà tâm trong lành, định tĩnh, sáng suốt tức có tinh tấn, chánh niệm, tỉnh giác hay có giới định tuệ thì đó Đạo đế.Có Đạo đế thì Tập đế không sinh, hoặc có sinh thì cũng diệt, mà Tập đế diệt thì không có Khổ đế.Ngay đó chỉ còn DIệt đế tức tịch tịnh Niết-bàn.

Thực ra, không phải tinh tấn chánh niệm tỉnh giác là để mong đạt được điều gì mà chỉ đưa tâm trở về với bản chất trong lành, định tĩnh, sáng suốt thì ở đó Tập đế và Khổ đế không sinh khởi mà chỉ còn Đạo đế đang thấy ra Diệt đế mà thôi.Ngay đó là Đạo đế, Diệt đế nên không cần phải nỗ lực tìm cầu gì nữa.Khi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân hoặc cảm giác khổ , lạc , xả đang hiện diện, nếu tâm trong lành, định tĩnh, sáng suốt thì ngay đó Tập đế không sinh, tức là phi hữu ái, hữu ái, dục ái không sinh, vì vậy Khổ đế cũng không thì ngay đó chính là DIệt đế.Cho nên, ngay khi đang đi mà tâm đầy đủ tinh tấn chánh niệm tỉnh giác tức đầy đủ giới định tuệ thì toàn bộ Diệt đế và Đạo đế đang ở ngay đây.Nhưng do cứ mải khởi tâm mong cầu, tìm kiếm, cố gắng để đạt đến lý tưởng tương lai nên mới sinh ra luân hồi sinh tử.Thấy ra điều này, mỗi lần khởi ý định tu luyện hay ngồi thiền liền tự nhiên thấy mắc cớ(tàm quý) với cái tham của tâm “hữu-tướng-tác-cầu”.Vì chỉ mới khởi ý ngồi thiền là đa thấy rõ cái ngã đang nỗ lực để mong đạt được an lạc giải thoát, mong đạt được Niết-bàn, nhưng thực ra là đang tạo tác Tập Đế mà không tự biết.Điều này quá tinh vi, rất khó nhận ra quá, phải không?

Tóm lại, khi đang làm bất cứ điều gì hay ở trong bất kỳ trạng thái nào, ngay đó tâm trong lành, định tĩnh, sáng suốt thì thực tại tự trình hiện một cách chân thực mà không cần khởi tâm tìm cầu hay loại bỏ gì cả.

Hôm nay, chúng ta trình bày thực tại đang diễn ra nơi mọi người, ai cũng có thể thấy ngay, không cần chờ đến ngày mai hoặc bất kỳ đâu khác mới thấy.Như Đức Phật dạy trong Kinh Nhất Dạ Hiền:

                                                            Quá khứ không truy tìm

                                                            Tương lai không ước vọng

                                                            Quá khư đã đoạn tận

                                                            Tương lai thời chưa đến

                                                            Chỉ có Pháp hiện tại

                                                            Tuệ Quán chính là đây

                                                            Không động không rung chuyển

                                                            Biết vậy nên tu tập

                                                            Hôm nay nhiệt tâm làm

                                                            Ai biết chết ngày mai.

Đừng nói là”tôi” đang cố gắng tu hành để mai kia đắc Đạo, mà chủ yếu là có đang trọn vẹn thấy rõ thực tại thân-thọ-tâm-pháp đang là không.Đang là gì cũng được, quan trọng là có tự soi sáng được thực tại đang là đó hay không thôi. Đang ngồi thì chỉ thấy thân đang hiện diện, đó là thực tại, trở về với thực tại là tinh tấn, trọn vẹn với thực tại là chánh niệm, thấy ra thực tại là tỉnh giác.

Phần hỏi đáp:

Hỏi:Xin thầy nói rỡ hơn nghĩa của từ tinh tấn, vì nếu tinh tấn là tích cực mien mật để tìm cầu thì có thê bị rơi vào cái tham hay không?

Đáp:Tinh tấn nói chung là 1 trong 6 biệt cảnh tâm sở vốn không thiện không bất thiện, nhưng đi chung với tâm thiện thì hỗ trợ cho thiện, đi chung với tâm bất thiện thì hỗ trợ cho bất thiện, đi chung với trí tuệ thì nghiêm túc, chân thành, không buông lung phóng dật.Như trong Tứ Chánh Cần thì tinh tấn có nghĩa là buông bỏ bất thiện để trở về với bản tánh lương thiện.Trong Tứ Niệm Xứ thì tinh tấn có nghĩa là buông bỏ khái niệm tục đế để trở về với thực tánh chân đế.Vậy tinh tấn theo nghĩa Đạo là xả ly buông lung phóng dật để trở về trọn vẹn tỉnh thức với thực tại hiện tiền chứ không phải là tích cực miên mật theo nghia cố gắng không ngừng trong tục đế  mà hầu hết là xuất phát từ bản ngã.

Theo tục đế thì tinh tấn cũng có nghĩa là cố gắng nỗ lực, siêng năng, cần mẫn, như làm một việc gì đó=ều cần tận lực.Nhưng có khi nỗ lực để phục vụ cho bản ngã tham sân si, có khi nỗ lực để vượt qua điều ác , phát huy điều thiện nên vấn đề là nỗ lực gì mới được. Thường cố gắng phát xuất từ ý đồ đạt được một mục đích nào đó, dù thiện hay bất thiện đều là công cụ của bản ngã.Thí dụ nỗ lực ngồi thiền với mục đích đắc định, đắc tuệ hoặc để được an lạc, thần thông gì cũng vẫn là tham vọng của bản ngã.Trong khi thiên thật sự thì chỉ cần thấy ra sự thật đang là thôi, như đang quét nhà, đang nấu cơm trong trọn vẹn tỉnh thức chẳng hạn.

Vậy tinh tấn đúng nghĩa không phải là nỗ lực để đạt được tham vọng mà chính là buông mọi nỗ lực tham vọng “sinh, hữu, tác, thành” để trở về”không sinh, không hữu, không tác, không thành” như Đức Phật dạy trong Udana, Tiểu Bộ Kinh.

Hỏi:Xin thầy cho con biết thế nào là ngồi thiền theo đúng nghĩa Phật dạy?

Đáp:Đừng vội nói đến việc ngồi thiền, phải thông suốt nguyên lý thiền trước đã.Thật ra không phải chỉ ngồi thiền vì đi cũng thiền, nằm cũng thiền, đứng cũng thiền, tất cả đều thiền được, đâu phải chỉ ngồi thôi mới gọi là thiền.Nên thiền tự nhiên bất cứ khi nào ngồi tốt hơn là cố ngồi thiền theo lập trình của bản ngã.Điều này chúng ta sẽ nói sau.

Hỏi:Nếu cố gắng chánh niệm thì có chấp thủ không?Vì sợ buông ra là khổ đến.

Đáp:Nếu sợ khổ mà cố gắng chánh niệm thì đúng là vẫn còn chấp thủ.Tinh tấn chánh niệm tỉnh giác chính là để thấy khổ, có thấy khổ mới không còn chấp thủ tham ái.Do đó sử dụng thiền để chống lại khổ thì đó là phi hữu ái, là Tập đế chứ không phải Đạo đế.Nên trong Bộ Kinh Tương Ưng Đức Phật dạy chư Tỳ kheo nếu được hỏi dưới sự hướng dẫn của Thế Tôn tu hành vì mục đích gì thì hãy trả lời là vì liễu tri khổ.

.                                                           2.Tập Đế

Chúng ta đã nói về Bốn Sự Thật diễn ra nơi thực tại thân-tâm-cảnh trong đó bao gồm thân, thọ, tâm, pháp; nói về các ái đối với những cảm thọ mà sinh ra các loại khổ; nói về đâu là Danh pháp đâu là Sắc pháp.

Chúng ta cũng đã nhắc đến một điều  là có khi tưởng đang tu theo giới định tuệ của Đạo đế mà trên thực tế là đang tu theo tham sân si của Tập đế.Nếu không nhận ra điều này thì tu hoài vẫn chỉ làm con rối cho trò chơi cuả bản ngã hoặc làm giàu cho cái “ta”ảo tưởng mà thôi. Trong khi tu thực sự chỉ là soi sáng, phát hiện tiến trình hình thành, phát triển và diễn biến của bản ngã, đế thấy ra nguyên nhân của đau khổ và sự chấm dứt đau khổ như thế nào thôi.

Do đó Đức Phật nói cuối cùng việc tu hành của Ngài là tìm ra người thợ làm nhà, tức bản ngã-nguyên nhân tạo ra luân hồi sinh tử.Vậy tu không phải để rèn luyện cho bản  ngã hoàn hảo hơn mà chính là chấm dứt ảo tưởng hình thành và phát triển bản ngã..Nếu giữ giới luật, hành thiền định, tu thiền tuệ mà tăng thêm bản ngã thì Đức Phật gọi là đặt sai hướng, vì đó là hành theo Tập đế, không phải Đạo đế.

Bản ngã và Tập đế

Vậy hôm nay chúng ta nói về sự hình thành bản ngã tức hình thành Tập đế, mà hình thành Tập đế cũng chính là hình thành bản ngã.Có thể hành theo Tập đế cũng tạo ra được những cảnh giới rất cao như các cõi Trời Dục giới, Sắc giới, Vô sắc giới, nhưng đã còn Tập đế thì vẫn còn Khổ đế.

Nội dung của bản ngã là Vô minh và Ái dục.Ái dục không phải khi nào cũng bất thiện, có khi thiện hay rất thiện như Sắc ái, Vô sắc ái hoặc một đời sống rất đạo đức trong tam giới. Vì thế dễ gây ra hiểu lầm, xem đó là gương mẫu, là mục đích tu hành để vươn tới. Nhưng thực ra cái đạo đức đó vẫn là bản ngã, không thể giác ngộ được. Đó không phải là Ba-la-mật. Như Bồ-đề Đạt-ma nói, những việc làm đạo đức của Vua Lương Võ Đế không có công đức gì vì còn thấy mình có công đức tức còn hữu công, hữu danh, hữu ngã. Đạo đức phải phát xuất từ sự giác ngộ mới là đạo đức thật. Khi nào không còn ảo tưởng về bản ngã mới thể hiện đúng cái Đức của Đạo. Đạo đức hữu vi hữu ngã chỉ có thể giúp sinh lên các cõi trời Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới, nghĩa là vẫn không ra ngoài Tam giới. Trong tam giới thì vẫn còn bị trói buộc, vì còn ham thích thọ  lạc, còn muốn chạy trốn cái khổ trong cõi trần gian. Đạo đức và phước báu như thế chỉ làm giàu cho bản ngã mà thôi. Tu như vậy Đức Phật gọi là tu không đúng hướng, như cầm cây kim không đúng hướng thì không đâm thủng được gì, cũng vậy, dù nói là hành theo giáo pháp của Đức Phật, nhưng không đúng hướng thì vẫn chỉ tăng ngã ái, ngã kiến, ngã thủ không thể nào chọc thủng vô minh ái dục được. Đức Phật xác định rằng giáo pháp này chỉ có nhất hướng viễn ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, chánh trí, giác ngộ, Niết-bàn. Đoạn diệt là đoạn diệt Tập đế (phi hữu ái, hữu ái, dục ái). Tập đế diệt thì Khổ đế(khổ khổ, hoại khổ, hành khổ) cũng diệt. Cho dù còn quả khổ, lạc, xả thì vẫn không còn Khổ đế, mà không còn Tập đế, Khổ đế thì đó chính là Diệt đế, là Niết-bàn.

Ngũ uẩn:cơ cấu hình thành bản ngã

Trong tiến trình ngũ uẩn, khởi đầu sự tương tác giữa mắt với sắc, tai với âm thanh, mũi với hương, lưỡi với vị,thân với xúc gọi là sắc uẩn. Sự tiếp xúc này tạo ra cảm giác khổ, lạc, xả gọi là thọ uẩn, như khi đập tay xuống bàn thì cảm thấy đau. Đó là thân xúc sinh cảm thọ khổ. Khi có thọ thì liền nhận biết xúc thọ đó, sự nhận biết này là tưởng uẩn, như khi tay tiếp xúc với mặt bàn, cảm thấy cứng hoặc mềm, dễ chịu hoặc khó chịu… liền nhận biết đối tượng là gì. Nếu trải qua những diễn biến trên, tâm phản ứng với thái độ tạo tác thiện, bất thiện hoặc vô ký, đó là hành uẩn. Cuối cùng nội dung toàn bộ diễn biến trên hình thành thức uẩn. Thức uẩn vừa là tâm khởi lên hình thành tiến trình ngũ uẩn, vừa sao lưu tiền trình này vào tiềm thức Bhavanga. Chính 5 giai đoạn diễn biến này của ngũ uẩn đã hình thành, tích lũy kiến thức và kinh nghiệm dưới dạng sở tri, sở đắc cho bản ngã, đồng thời cũng chính là cơ cấu của Tập đế.

Ngũ uẩn-kinh nghiệm- bản ngã-Tập đế

Trong 5 uẩn này, hành uẩn là khâu chính quyết định phản ứng tạo tác hình thành Tập đế, cho nên chỉ khi nào hành uẩn được giới định tuệ(Đạo đế) soi sáng thì mới thoát được 3 ái:tham, sân, si để trở về với bản chất trong lành, định tĩnh, sáng suốt của tâm, không còn rơi vào Tập đế nữa. Nếu không đủ cảnh giác, khi nỗ lực tu hành với tham vọng đạt được sở tri sở đắc là đã bị tham sân si chi phối mà cứ tưởng mình đang hành theo giới định tuệ!

Đạo đế là giới-định-tuệ hay trong lành, định tĩnh, sáng suốt là bản chất tự nhiên, tùy duyên tùy phấp mà ứng nhưng vẫn không, vô tướng, vô tác, vô cầu nên tự nó rất linh hoạt mà không hề lăng xăng dụng công tạo tác như Tập đế. Do đó đừng lầm Tập đế hữu vi hữu ngã với Đạo đế vô vi vô ngã.

Mười hai duyên sinh

Tập đế được mô tả ngắn gọn qua tiến trình 5 uẩn và còn được Đức Phật triển khai chi tiết hơn qua tiến trình duyên sinh của 12 yếu tố tạo thành toàn bộ dòng sinh tử luân hồi gọi là Mười Hai Duyên Khởi:

Vô minh- hành-

Thức- Danh sắc-Lục nhập-Xúc-Thọ-

Ái-Thủ-Hữu-

Sinh-Lão tử(Sầu, bi, khổ, ưu, não).

Tất cả 12 yếu tố nêu trên tạo thành một chuỗi, cái trước duyên cái sau mà sinh khởi trở thành một vòng tròn lặp đi lặp lại.Trong đời sống thực tế có thể quan sát hay cảm nhận được sự sinh diệt của chúng.

Vô minh là không thấy biết sự thật đang vận hành nơi căn, trần và thức; không thấy biết thực tại thân thọ tâm pháp đang diễn ra… như đang thở, đang ăn, đang đi đứng ngồi nằm mà chỉ thấy một cái “ta” trong những hoạt động đó. Một cái “ta” hoàn toàn không có thực, chỉ là do ảo tưởng tạo ra. Như khi đang đi, thì chỉ có những trạng thái, những tư thế, những động tác đang diễn biến thôi, tìm đâu ra cái “ta” trong đó!

Khi vô minh thì chỉ thấy cái ảo chứ không thấy cái thực. Như khi đang đi, va chạm phải ai đó liền nổi giận. Tại sao?Vì lúc đó đang ở trong tình trạng vô minh, không biết rõ trình tự diễn biến trong”sự” đi mà chỉ thấy “ta” đi, nên cái “ta” mới nổi giận. Nếu lúc đó đi với tâm định tĩnh sáng suốt thì đâu dễ nổi sân.

Trong đi, sáng suốt biết đang đi thì đó là minh, trong minh không có cái”ta” hiện hữu.

Vô minh tạo ra ảo tưởng rồi sống trong ảo tưởng đó, giống như lúc ngủ do đói nên mộng thấy đang dự một buổi tiệc đầy món ngon vật lạ, nhưng ăn hoài không no, vì lúc đó ăn là mộng, cảm giác đói mới thực.

Đừng tưởng vô minh là không biết gì, chính vì biết quá nhiều thứ bên ngoài(tục đế) mà không biết thực tại thân tâm(chân đế) nên mới gọi là vô  minh. Nhiều người kinh điển, kiến thức đầy đầu, thiên văn, địa lý đều giỏi nhưng vẫn phiền não khổ đau, chỉ vì biết quá nhiều mà không biết gì về chính mình. Vừa rồi có người hỏi:”Tại sao chư Tăng cạo đầu mà Đức Phật lại không?”Biết được điều đó thì liệu có lợi ích gì, thực tại thân-tâm-cảnh đang đây không biết mà muốn biết vì sao Phật có tóc để làm gì?Biết nhiều chuyện như thế mà không tự biết mình thì vô minh vẫn hoàn vô minh thôi.

Còn nếu mình biết mình như thế này:Tôi tên là…, tôi sinh năm tháng ngày giờ là…, quê quán của tôi là…, chúc vụ địa vị của tôi là v.v.. và v.v… đều nhớ rõ vanh vách, nhưng không biết nguyên nhân vì sao mình đau khổ thì cũng vẫn là vô minh. Vì biết tất cả những cái đó chỉ là khái niệm quy ước không phải là

Sự Thật rốt ráo, không phải là thực tánh chân đế, nên cái biết đó chỉ dùng trong đối đãi, không ích gì cho việc giác ngộ giải thoát cả.

Có câu chuyện thật buồn cười, anh chàng nọ vẽ khuân chân mình để đi đóng giầy. Đến tiệm giầy  mới phát hiện quên cái khuôn ở nhà nên quay về lấy.Thợ giầy bảo anh đưa chân ra đo ngay cho nhưng anh tin cái khuân anh vẽ hơn chính chân anh nên nhất định phải quay về lấy mới được!Cho nên nhiều khi  mình tin vào tờ lý lịch hơn chính bản thân mình. Người tu cần phải biết bản thân mình đang như thế nào, chứ không phải mình là hòa thượng, là trụ trì hay tiến sĩ,.. tất cả những thứ đó đều không phải là cái thực, không thấy cái thực là vô minh, mà chấp cái không thực lại thêm tà kiến.

Bây giờ, tại sao trong Kinh lại nói vô minh và hành thuộc quá khứ?Không phải quá khứ là kiếp trước hoặc hôm qua, hôm kia gì đâu, mà là ngay đây đang bị vô minh và vọng động dẫn trước che mờ nên không rõ biết thực tại thân-tâm-cảnh đang là.Thí dụ, khi đang đi tâm buông lung phóng dật theo ngoại cảnh- biểu hiện của vô minh và hành- nên ở trong tình trạng không tự biết mình mà giẫm phải cái gai, bị đau rồi nổi sân.Nếu nổi sân với cái gai là hiện tại thì cái tâm vô minh vọng động ngay trước nó tất  nhiên là quá khứ.Nếu trước đó là sáng suốt trầm tĩnh- không có vô minh, hành-thì toàn bộ chuỗi duyên sinh không khởi, nên cũng không có nổi sân.

Nói cách khác, vì vô minh có mặt trước nên tâm thiếu định tĩnh sáng suốt, thiếu trọn vẹn tỉnh giác với thức, danh sắc, lục nhập; do đó khi xúc, thọ xuất hiện mới phản ứng với tâm sân như vậy.Sân chính là ái.Ái củng cố thành thủ, nếu sân chỉ sinh rồi diệt ngay thì chẳng sao, nhưng vì thủ nên mới đủ lực thúc đẩy để thực hiện ý đồ, đó là hữu.Hữu chính là hành động tạo tác để trở thành.

Ở đây, cần nhấn mạnh hữu là tạo tác để trở thành chứ không phải là hành động đơn thuần không tạo tác gọi là duy tác, tức là hành động trọn vẹn tỉnh thức trong hiện tại, không có ý đồ trở thành gì ở tương lai cả.

Vậy, tiến trình 12 nhân duyên có thể nhấn mạnh vào một số mấu chốt quan trọng:

Vô minh…-ái+thủ+hữu-sinh tử…

Những thực kiện này xảy ra nơi mỗi người nên chúng ta cần thấy ra sự thật ngay nơi thực tại thân tâm, còn ngôn từ chỉ mượn để diễn đạt thôi không có gì trong đó để” tầm chương trích cú”.Như nói”đây là chai nước LaVie”, thì quan trọng là thấy ra chai nước này, đừng quá chú trọng vào câu nói này hay tên gọi kia.

Trước đây, Đức Phật thường đơn giản chỉ thẳng sự thật đang diễn ra nơi  người nghe, còn ngôn từ chỉ là phụ đề thôi.Ai thấy thì thấy ngay, ai không thấy mà cứ bám vào ngôn từ thì ngày càng xa sự thật.Người sau đọc Kinh hoài không hiểu vì Kinh chỉ là ngôn ngữ được dùng để tường thuật lại, không phải là sự thật mà người nghe ngay lúc đó đã giác ngộ, còn lại cái vỏ ngôn từ cứ qua tay các nhà chú giải, các vị luận sư đầy lý trí mà thành”kho kiến thức như khu rừng rậm”Đức Phật gọi là “kiến trù lâm” khó mà hiểu được huống gì thấy ra hay thực chứng!Vì vậy mỗi người phải tự khám phá những thực kiện này ngay nơi chính mình, không cần theo bất cứ chú giải hay phương pháp luận nào của người sau thêm thắt.Đã theo khuân mẫu của người khác thì muôn đời vẫn là bắt chước, là nhai lại cái bã của tiền nhân, không bao giờ thấy được Pháp.

Bây giờ, chỉ cần nhìn kỹ lại diễn biến nơi thực tại thì sẽ thấy ngay:Có vô minh thì ái(phi hữu ái, hữu ái, dục ái) liền sinh khi có cảm giác( khổ, lạc, xả) qua sự tiếp xúc của giác quan(căn) và đối tượng(trần).

Như khi có một cơn đau.Thực ra cảm giác đau thì chỉ như vậy, nhưng chính ảo tưởng- biểu hiện của vô minh-sinh ra phi hữu ái(sân) khiến cơn đau trở thành khó chịu hơn rất nhiều, tưởng chừng như không thể chịu nổi.Trên thực tế không chịu nổi là do thái độ đối kháng mà thôi.Nếu cơn đau thật sự quá sức chịu được thì tự nhiên ngất xỉu để ngắt cái khổ đó ngay.

Một khi đã than”tại sao tôi khổ thế này, tôi không thể nào chịu đựng được” thì đó chính là Tập đế, là vô minh ái dục, mà cụ thể là thái độ đối kháng lại cái khổ đó(phi hữu ái) nên mới thấy khổ càng tăng lên đến mức không chịu được(khổ khổ).Cái khổ thực thì chịu được, còn cái khổ do ảo tưởng sinh ra ảo giác thì vô cùng khó chịu.Lẽ ra cứ bình thản chịu đựng mà cảm nhận trung thực thì có thể thấy rõ bản chất thật của nó, bằng không, muôn đời vẫn vô minh, ái dục và sinh tử luân hồi, phiền não khổ đau.

Nhiều người đi hành thiền, hỏi ra thì nói hành để thoát khổ.Họ mong chấm dứt khổ để được hưởng an lạc.Nhưng nếu phân tích ra thì ý muốn thoát khổ là sân, là phi hữu ái, là Tập đế, chỉ đưa đến khổ khổ trong Khổ đế mà thôi.Còn thoát khổ để được an lạc là tham, là hữu ái, cũng là Tập đế chỉ đưa đến hoại khổ trong Khổ đế.Lẽ ra chỉ cần bình tĩnh sáng suốt thì có thể thấy khổ, lạc như nó là, không để tham sân chi phối, thì ngay đó đã giải thoát, không bị vô minh ái dục chi phối.Nhưng vẫn cố hành theo ý đồ nào đó nên lăng xăng tạo tác để trở thành, đó chính là dục ái đưa đến thủ, hữu tức hành khổ, rốt cuộc cũng vẫn là Tập đế,Khổ đế.Họ có thể biện luận rằng”tôi đang hành theo phương pháp có giới định tuệ đàng hoàng mà”.Nhưng giới định tuệ chế định đặt sai hướng thì cũng chỉ tăng thêm bản ngã vô minh ái dục mà thôi.

Giới định tuệ mà Đức Phật chế định chỉ nhằm mục đích để thấy ra sự thật ngay nơi căn-trần-thức, nơi khổ-lạc-xả nơi các ái phát sinh.Thấy rõ tức không bị chúng che lấp, chi phối, trói buộc, chứ không phải   mong cầu thoát khổ rồi nỗ lực tạo tác để được an lạc.Thoát khổ được lạc thì vẫn còn trói buộc trong tham ái làm sao thấy được đâu là Khổ đế, đâu là Tập đế?Đã không thấy thì mãi mãi vẫn vô minh, vẫn luân hồi trong khổ lạc làm sao giác ngộ và giải thoát khỏi trói buộc?Nếu nói gắng tu cho mau để được lên cõi nhàn tịnh, an lạc thì chẳng khác nào trốn tránh bài học vô thường, khổ, vô ngã đầy cam go ở đời để giác ngộ sự thật!

Nhiều người đang khổ, nhưng không thấy được bản chất và nguyên nhân của khổ, không thấy được khổ là một chân lý tuyệt vời. Vì nếu không có khô thì mãi mãi dính mắc không bao giờ có sự xả ly của ba-la-mật, nếu không có khổ thì bản  ngã ngày càng tăng trưởng chứ đâu có thấy sai mà giác ngộ giải thoát.Chính vì vậy, khổ là điều mầu nhiệm được gọi là Diệu đế hay Thánh đế(Ariya sacca)-Sự thật tinh tế và rốt ráo.Khi khổ, họ đổ lỗi cho cuộc đời, cho Trời Đất, cho Quỷ Thần, cho người khác, cho hoàn cảnh xung quanh, mà  không biết rằng chính cái ngã vô minh, ái dục gây ra tất cả.Do không tự thấy mọi nguyên nhân sinh ra đau khổ đều xuất phát từ thái độ nhận thức và hành vi sai xấu, nên cứ lo thay đổi cuộc đời chứ không biết chuyển hóa chính mình.Ngay cả việc tu giới định tuệ mà chỉ để  mong tích lũy sở tri sở đắc hầu được lên Thiên Đàng hoặc thành Bồ-tát, thành Thánh, thành Phật v.v… thì chỉ tăng trưởng bản ngã, làm sao thấy ra Sự Thật.

Nếu vì mục đích thoát cái này để được cái khác, thì chỉ là hết trói buộc này đến trói buộc nó, hết khổ đau nọ đến khổ đau kia, làm sao thật sự giải thoát?Vì hễ đạt được tức phải giữ cho nó khỏi mất, vậy là thêm một trói buộc nữa.Lúc đó lại cho rằng sở tri  này là “ta”, sở đắc nọ là”của ta” để rồi chỉ tích lũy thêm trói buộc, làm sao giải thoát?

Như vậy, nếu ngay nơi  lục nhập-xúc-thọ không soi sáng kịp thời tức bị vô minh che ám nên phát sinh ái-thủ-hữu, thì ngay đó cần soi sáng ái-thủ-hữu, đừng đợi thời gian đi hành một hai khóa thiền để tìm kiếm lại nó.Đó chỉ là cái vòng luẩn quẩn của bản ngã tham sân si mà thôi.

Vô minh, ái dục đơn giản chỉ là”không biết mà muốn”.Hầu hết chúng ta không biết điều mình  muốn đạt tới thực sự là gì, chỉ nghe Kinh Luận nói đến rồi tự tưởng tượng ra lý tưởng đầy mơ mộng mà thôi.Những điều chưa biết này thường được vẽ vời, dàn dựng bởi những điều đã biết hoặc nghịch lại điều đã biết.Thí dụ, một anh chàng độc thân muốn lấy vợ nghĩ rằng lấy vợ sẽ hạnh phúc và thoát khỏi cái khổ độc thân. Để được hạnh phúc bên người bạn đường.

Rồi anh ta lấy vợ, nhưng có đạt được hạnh phúc như mơ ước hay không thì rõ ràng là anh ta chưa biết, vì chỉ tưởng tượng thôi.Lấy vợ rồi mới sinh ra đủ thứ đau khổ chứ không hạnh phúc như anh ta tưởng.Hóa ra cũng chỉ đổi cái khổ này lấy cái khổ khác, đâu có hơn gì!

Tu cũng vậy, không thấy thực tại mà cố tu để đạt đến Niết-bàn, để nguyện thành Phật, thành Bồ-tát hoặc nguyện mau giải thoát v.v…nhưng không thực sự biết đó là gì thì vẫn chỉ là ảo tưởng.Kinh Viên Giác nói:”Đối với kẻ mê thì tánh Viên Giác cũng là tánh mê”.Điều đó hoàn toàn chính xác, vì tánh Viên Giác chỉ người hoàn toàn giác ngộ mới biết, còn người mê thì chỉ tưởng tượng qua tánh mê của họ mà thôi.Chỉ có thực tại thân-thọ-tâm-pháp đang thực sự diễn ran gay đây và bây giờ mới cần soi sáng để thấy ra sự thật.Đơn giản là đang đứng, đang đi, đang ngồi, đang nằm, đang ăn, đang uống v.v.. đều trọn vẹn tỉnh giác là được, vì soi sáng thực tại là mình, ngược lại sống thiếu tỉnh giác là vô minh.Nếu mọi sự mọi vật đều được soi sáng rõ ràng thì Sự Thật Vi DIệu tự hiển bày không cần tìm kiếm.Thì ra Niết-bàn vẫn thường ngay đó nhưng vì không thấy nên cứ mải mê thả mồi bắt bóng mà thôi.

Phần hỏi đáp

Hỏi:Trong Tứ Chánh Cần Đức Phật dạy,”làm phát sinh các điều thiện chưa sinh, làm tăng trưởng những điều thiện đã sinh, làm cho không sinh những bất thiện chưa sinh và làm đoạn diệt những bất thiện đã sinh”.Như vậy là vẫn phải loại bỏ điều ác,phát triển điều thiện chứ?

Đáp:Không nên hiểu Tứ Chánh Cần theo nghĩa nỗ lực loại bỏ điều ác, phát triển điều thiện cứng nhắc một cách hữu vi hữu ngã như thế.Tứ Chánh Cần đơn giản hơn nhiều, chỉ cần chánh niệm tỉnh giác hay trở về trọn vẹn tỉnh thức ngay nơi thực tại thôi thì cả 4 điều trên đều được thực hiện dễ dàng một cách vô vi vô ngã.

Thí dụ  khi đang đi nếu trọn vẹn tỉnh thức trên thân hành đó thì bất thiện chưa sinh sẽ không sinh khởi, bất thiện đã sinh tự nhiên biến mất.Và khi trọn vẹn tỉnh thức tức thiện đang hiện diện và chánh niệm tỉnh giác tức đang duy trì và phát triển thiện pháp đã sinh.Như vậy mới thật là Tứ Chánh Cần, còn nếu cứ áp dụng theo lý thuyết rồi tính toán cái gì thiện tôi cố gắng làm, cái gì bất thiện tôi quyết tâm loại bỏ đi, thì chắc chắn chỉ 5 phút thôi đã nhức đầu rồi, đúng không?Trong khi tinh tấn, chánh niệm, tỉnh giác là buông mọi nỗ lực tạo tác để trở về trọn vẹn tỉnh thức trên thực tại đang là, không cần tạo tức làm gì cả mà ngay đó vẫn đầy đủ Tứ Chánh Cần.Tinh tấn trong chánh niệm tỉnh giác tự nó đã đầy đủ Tứ Chánh Cần rồi, phải không?Mà không phải đầy đủ Tứ Chánh Cần thôi, chính xác là đầy đủ Bát Chánh Đạo, đầy đủ mọi yếu tố giác ngộ.

Tri kiến chân thực

Có một câu định nghĩa rất hay về tri kiến thực là”cái gì còn lại sau khi quên hết”, tức sau khi quên hết mọi kiến thức vay mượn mà vẫn thấy biết rõ ràng mới là tri kiến chân thực.Thí dụ nếu một người đầy kiến thức bị tiêm một liều lũy được, chỉ còn sống với bản năng, mà ngay cả bản năng lúc đó cũng đã cạn kiệt mất rồi.Nếu không tự sáng suốt rõ biết thực tại mà chỉ sống theo công thức, phương pháp, quan niệm, kinh điển v.v… thì khi quên hết những thứ vay mượn đó sẽ còn tệ hơn khi chưa có kiến thức nào cả.Còn nếu một người thường sáng suốt tự tri, thì cho dù có quên hết cũng vẫn thấy biết thực tại rõ ràng.Như khi ăn cái bánh người sáng suốt sẽ biết rõ hương vị của cái bánh cho dù không nhớ cái bánh tên gì, xuất xử ở đâu.

Người thực sự tự tri, tự giác thì chính khi anh ta quên hết mọi kiến thức kinh luận, mọi hệ quy chiếu đạo đức tục đế  mới là lúc trí tuệ và đạo đức chân thật xuát hiện.Còn nếu anh ta chỉ rập khuân theo đạo đức kinh luận, hay thước đo đạo đức quy định sẵn nào đó thì cũng chỉ là đạo đức giả mà thôi,Vậy cần phải xem lại mình có thật sự sống thực chưa hay chỉ sống theo quy định của  người khác, của ông thầy, của vị đạo sư nổi tiếng hoặc theo bài bản kinh luận… nhưng rồi lột hết mặt nạ đó ra thì con thú( vô minh ái dục) bên trong vẫn còn nguyên!Trong khi ăn, khi uống,khi đi, khi đứng, khi ứng xử với người khác có nhận ra được con thú đó không hay cứ tưởng mình là nhà đạo đức?Đó mới là thưc, còn tất cả những thứ trang điểm bên ngoài cho đẹp chỉ là vay mượn ảo.Trang bị hình thức bên ngoài càng nhiều, thực chất bên trong càng ít.

Vì thế, như lúc nãy chúng ta đã nói về Tứ Chánh Cần, ngay cả Tứ Niệm Xứ cũng vậy, chỉ”thấy” và tùy duyên mà ứng một cách tự nhiên, vô ngã chứ không phải”hành” một cách chủ quan hữu vi, hữu  ngã.”Thấy” tự nó đã là hành rồi không cần gia thêm cái gọi là “hành” của bản ngã gì nữa.”Thấy” tức khi đang đi chỉ trọn vẹn trong sáng với động thái đi thôi là đủ không có gì phải”hành” cả.Sao gọi là hành?Phải chăng là cố ép thực tại đang là theo một khuân mẫu “Phải là” đã quy định sẵn?Thực ra, mục đích của Tứ Niệm Xứ là không để tâm chạy lang thang trong nỗ lực tìm kiếm bên ngoài, mà sống nghiêm túc với thực tại thân-thọ-tâm-pháp đang là, hoặc khi thấy tâm buông lung phóng death thì liền trở về với  khoảnh khắc thực tại.Trở về với thực tại đang là-không còn buông lung phóng dật-là tinh tấn, trọn vẹn với thực tại là chánh niệm, và tâm sáng suốt thấy biết rõ ràng là tỉnh giác.Đơn giản vậy thôi.Cần nhận ra “ai” cố gắng hành và cố gắng hành để làm gì, thì liền phát hiện ra cái ngã tham vọng luôn muốn trở thành.Buông cái ngã lăng xăng rồi tìm cầu thì tinh tấn chánh niệm tỉnh giác liền tự chiếu soi, còn tính toán chánh niệm tỉnh giác theo ý mình thì đã sai ngay từ đầu rồi, sao gọi là hành được.

Lưu ý là không cần ghi nhớ lời thầy nói, quên hết đi càng tốt.Không phải nghe để góp nhặt kiến thức.Chủ yếu là nghe để thấy ra sự thật nơi chính  mình hầu loại bỏ những  nhận thức sai lầm mà thôi.Kiến thức vay mượn chỉ che mờ trí tuệ sẵn có vốn rất trong sáng.Ngôn từ chỉ tạm dùng để chỉ sự thật, thấy sự that rồi thì bỏ ngôn từ đi, không nên lập ngôn, lập tri để rồi kẹt trong ngữ nghĩa mà thành sở tri chướng, nên Lão Tử nói”Trí giả nhược ngu”Hoặc “Tri giả bất ngôn” là vậy.Bây giờ có ai hỏi gì không?

Hỏi:Thưa thầy, vậy mà nhiều người vẫn hiểu Tứ chánh cần là phải diệt cái bất thiện và cố gắng để phát sinh điều thiện.Trong khi đó điều bất thiện đã phát sinh rồi thì làm sao mà diệt nó được.Như mũi tên đã bắn ra rồi thì làm sao mà ngăn cho nó không được bay nữa.

Đáp:Vì vậy, giáo pháp của Đức Phật mà đặt sai hướng, sai chỗ, thì càng nỗ lực hành trì càng phản tác dụng, đi ngược với mục đích giác ngộ Sự Thật.Như tinh tấn mà đặt theo hướng nỗ lực tìm cầu sở tri sở đắc thì chính là đồng nghĩa với buông lung phóng dật.

Khi Đức Phật khai thị là Ngài chỉ ra nguyên lý-nói lên Sự Thật-mà người nghe có thể ngay đó thấy ra nơi thực tại đang là, không cần phương pháp hành trì để mong đạt tới. Pháp hành là do người sau không thấy được Sự Thật ngay đó nên mới bày ra pháp môn phương tiện hay phương pháp hành trì để mong đạt thành mục đích ở tương lai. Có nhiều trường phái hiện nay đang tu tập theo hướng”hữu, tướng, tác, cầu” đó, vô tình hay hữu ý họ đã đi ngược với chánh đạo”không, vô tướng, vô tác, vô cầu”mà Đức Phật đã chỉ dạy.Thật đáng sợ khi thấy ra điều này.Phật Pháp chỉ có mục đích duy nhất là mở ra tất cả mọi trói buộc thì người ta lại dùng Phật Pháp để trói buộc chính mình và người khấc!

Mới thấy rằng người sau tạo thành hệ thống lý thuyết và phương pháp thực hành theo ý mình rồi gán cho Phật để lập tông môn, hệ phái, tổ tổ tương truyền… nhưng thực ra đó chỉ là mạng lưới quy mô để ràng buộc môn đồ.Trong khi Đức Phật ngày xưa khai ngộ bằng cách chỉ thẳng vào sự thật ngay đó, cái thực đang có mặt nơi chính người nghe.Như một người nọ đang sân, hỏi Phật:”Bạch Thế Tôn, diệt cái gì thì được an lạc?”Đức Phật liền chỉ ra cho người ấy thấy:”Diệt sân thì được an lạc”.Người đó liền tỉnh ngộ.Ở đây không có công thức, phương pháp gì để áp dụng cả, chỉ người đó thấy ra sự thật Đức Phật chỉ thẳng mà thôi.Đừng dựa theo đó mà lập thành tông môn với những phương pháp”diệt sân để được an lạc” một cách logic và hoành tráng để thuyết phục mọi người áp dụng!

Đừng nghe”hiện tại lạc trú” rồi ham muốn mà cố tu thiền định để đạt sở đắc.Trú vào cái lạc ở cõi thiền định Hữu sắc, Vô sắc thì cũng chỉ bị trói buộc vào các kiết sử Sắc ái, Vô sắc ái mà thôi.Cái lạc của cảm thọ đó dù vi diệu đến đâu cũng vẫn thuộc hữu ái tức vẫn còn vô minh ái dục, vẫn là Tập đế đưa đến Khổ đế, chẳng an lạc giải thoát chút nào.Ít ai chịu thấy ra Khổ thọ khác với Khổ đế thế nào!

Sẽ có người hỏi nếu không hành thì làm cách nào có thể chứng ngộ?Người đủ trình độ có thể không hành mà chứng ngộ ngay, còn nếu chưa đủ trình độ thì phải hành, sao nói không cần hành được?Xin trả lời:Hành là quan sát, là khám phá Sự Thật qua trải nghiệm thực tại đang là chứ không phải hành là nỗ lực rèn luyện để đạt được sở tri, sở đắc sẽ là.Nếu hành là nỗ lực để trở thành lý tưởng ở tương lai thì đó là hành theo Tập Đế, không phải Đạo đế.Tuy mỗi người một trình độ khác nhau, nhưng chủ yếu là soi sáng(minh sát) lại thực tại ngay đây và bây giờ mới khám phá được Sự Thật nơi chính hiện trạng mỗi người.Người ăn trộm thì khám phá sự thật qua việc ăn trộm, người bố thí thì khám phá sự thật qua việc bố thí mới thấy ra chính mình để điều chỉnh nhận thức và hành vi đúng chánh đạo được.Nếu chính mình đang là còn không thấy được làm sao thấy được lý tưởn quá viển vông?Pháp luôn vận hành nơi ỗi người đúng với căn cơ trình độ và nhân quả của họ để giúp họ thấy ra sự thật nên không cần phải tìm kiếm đâu xa.Đó chính là điều kỳ diệu trong sự vận hành của Pháp.

Hỏi:Thưa thầy, vậy làm sao mà biết được trình độ của   mình?Nếu mình biết mình đang học lớp 1, thì mình sẽ học tiếp lớp 2 chứ không dám leo lên lớp 10 để học.

Trả lời:Rất dễ biết, nhưng chỉ vì mải lo tìm cầu lý tưởng ở tương lai mà bỏ quên thực tại thân tâm nên mới không thấy trình độ thực của mình.Pháp là thực tại thân-tâm-cảnh ngay đây và bây giờ nơi mỗi người, chỉ cần nhìn lại là thấy.Như đang sân trọn vẹn nhận biết đang sân, đang tham trọn vẹn nhận biết đang tham v.v… chính là biết rõ trình độ lớp 1 của mình, còn đang sân mà muốn có tâm từ là đang lớp 1 mà vọng tưởng lớp 10.Không thấy “tâm sân đang là” mà mong có”tâm từ sẽ là” thì làm sao thấy được trình độ thực của mình?Biết rõ tâm sân còn hơn mong ước có tâm từ, nên chỉ cần trở về với thực tại đang là liền biết được trình độ thực của mình như thế nào.

Ở Úc, có hai vợ chồng Phật tử hành thiền rất tích cực miên mật.Họ thay nhau tham gia các khóa thiền, nhưng khi vợ đi, chồng ở nhà sinh ghen tuông, bực bội. Sau khi biết thiền là soi sáng lại chính mình họ không đi tham gia các khóa thiền nữa mà chỉ trở về trải nghiệm chiêm nghiệm đời sống bình thường để học ra bản chất của mọi thứ đang diễn ra mà thôi.

Khi đã thấy ra chính mình thì sẽ thấy ra vạn pháp.Thấy rõ trình độ của mình là thấy ra duyên nghiệp mà mình đang trải nghiệm qua thân-tâm-cảnh hiện tại, không thể lẩn tránh nó để mong giải thoát.Chỉ khi nào giác ngộ sự thật thì mới giải thoát, trốn tránh sự thật không thể nào giải thoát được.

Trong thời Đức Phật, có một cư sĩ đã chứng bậc Tu-đà-hoàn, bà lấy một người chồng làm nghề săn bắn.Hằng ngày bà phải chuẩn bị cung tên, thức ăn cho chồng đi săn. Được hỏi làm như vậy bà ta có cộng nghiệp với chồng không, đức Phật trả lời rằng điều này cũng giống như cái vá múc canh, mặc dù ở trong nồi canh nhưng nó không bị ảnh hưởng bởi nồi canh.Vì sao lại như vậy?Vì người đàn bà này đã chứng bậc Tu-đà-hoàn nên tuy tùy duyên nghiệp mà vẫn sống thuận pháp để học tiếp bài học mới.Ở người này còn thiều một điều gì đó cần phải bổ túc, cần phải thấy ra nên phải trải nghiệm đời sống như thế mới có thể hoàn thiện Ba-la-mật.Cho nên Pháp rất kỳ diệu, không thể nghĩ bàn.Không phải cứ A là A,B là B.Quan trọng là người biết được Pháp, biết được  mình, biết được cái thực, biết được trình độ thực của mình.Nếu không thì dù cố làm cho tốt vẫn là đạo đức giả, vì chưa thực sự đúng tốt tự nhiên.

Tuệ Trung Thượng Sĩ nói người giữ giới hành thiền chẳng khác nào tự leo lên ngọn cây cao rồi trách sao gió lay nhiều thế!Tự nhiên cố gắng ngồi thiền rồi than sao mà nhức đầu, tê chân, mỏi lưng, buồn ngủ…

Thực ra chính tham vọng ngồi thiền đã tạo ra những phiền toái đó.Ngồi thiền như thế là đã tạo Tập đế thì sao không sinh Khổ đế được!Ngồi thiền mong đắc định là tham, muốn trốn tránh thực tại là sân, rồi gặp phải chướng ngại không định được càng sân hơn nữa.Tham sân sinh ra trạo cử, dao động.Cố dẹp dao động lại sinh ra căng thẳng, mệt mỏi nên đưa đến hôn trầm.Và cứ thế tâm sinh nghi hoặc, bất định.Đó chính là do ham định mà tự tạo ra 5 triền cái.

Hỏi:Nhưng nói thiền định diệt những triền cái đó là sao thưa thầy?

Trả  lời:Trong tinh tấn chánh niệm tỉnh giác đã có đủ giới định tuệ rồi nên tham, sân, trạo cử, hôn trầm, hoài nghi không sinh khởi thì đâu cần diệt, mà dù có cũng chỉ bình thản thấy tính sinh diệt của nó thôi là đủ rồi.Còm cố thiền để đắc định này định kia thì đó chỉ là định hữu vi hữu ngã của ngoại đạo mà Bồ-tát Siddhattha đã bỏ từ lâu trước khi giác ngộ vì đó không phải chánh định.Định của các bậc Thánh là chánh định chứ không phải tứ thiền bát định của ngoại đạo hoặc phàm định hữu vi hữu ngã còn trong tam giới.Dẫu đưa chứng Thánh định, người phàm hành chánh định vẫn khác xa tứ thiền bát định của ngoại đạo.Quan trọng là nắm vững cốt lõi của chánh định mới không lầm.Nếu không bị áp lực của bản ngã lý trí tham cầu sở đắc thì chỉ cần thư giãn buông xả, không vọng cầu gì thì tâm tự định,  ngược lại nỗ lực ý chí của bản ngã chỉ tạo ra triền cái, thậm chí nếu ý chí quá mạnh, tạo áp lực căng thẳng còn dẫn đến”tẩu hỏa nhập ma” nữa là khác.Cho nên, định tuệ gì cũng phải đúng nguyên lý giác ngộ giải thoát, chứ không thể rập khuân bất cứ phương pháp chế định hữu vi hữu ngã nào.

ĐÁNH GIÁ SẢN PHẨM

Sản phẩm đã xem

0₫ 0₫
Facebook Instagram Youtube Top