} catch (e) {}; //]]>
Giỏ hàng

Hương Vị Của Giải Thoát

Thương hiệu: Khác
|
99,000₫

Tên sách: Hương Vị Của Giải Thoát

Tác giả: Ajahn Chah

Tiêu đề
Hotline hỗ trợ: 093 6041 017
|
Số lượng

Hương vị của giải thoát

Mọi sự trong thế gian đều là hệ quả của những quy ước do chính con người tạo ra. Một khi đã tạo ra chúng, con người đánh mất mình trong chúng, không chịu buông bỏ, làm dấy sinh sự bám víu vào những quan điểm và ý kiến cá nhân.

Sự chấp thủ này không bao giờ chấm dứt, đó là vòng luân hồi, sự lưu chuyển không bao giờ ngừng. Nó không có điểm kết thúc.Cho nên, chúng ta phải biết sống và biết cách sử dụng tốt các quy ước, nghĩa là hiểu được chân tướng của thực tại, chúng ta sẽ cảm nhận đầy đủ ý nghĩa của sự giải thoát. Bản thân “giải thoát” cũng chỉ là một quy ước, nhưng nó hàm chứa sự vượt qua những quy ước.

Một khi đã đạt được tự do, cũng chính là đạt được giải thoát, chúng ta sẽ thật sự sống trong niềm an lạc. Và đó cũng chính là lúc chúng ta tận hưởng trọn vẹn hương vị của giải thoát.

HƯƠNG VỊ CỦA GIẢI THOÁT

 

VỀ CÁI TÂM NÀY

 

Về cái tâm này… Thật ra, chẳng có gì để nói rằng nó sai lạc. Nó tịnh khiết tự bản chất. Tự thân nó vốn tĩnh lặng. Sở dĩ bây giờ nó không an tĩnh là vì đang chạy theo những trạng thái yêu, ghét, thương, giận. Chân tâm hoàn toàn chẳng liên quan gì đến vui buồn hay ghét giận, nó chỉ trở nên bình an hay kích động là do các tính khí. Tâm không đưuọc rèn luyện thì ngu si, dại khờ. Những ấn tượng cảm giác đến và phỉnh phờ, khiến nó cho đó là hạnh phúc, đau khổ, vui vẻ và sầu muộn, nhưng thực tính của tâm chẳng thuộc những thứ này. Vui hay buồn chẳng phải là tâm, mà chỉ là một tính khí lừa gạt chúng ta. Cái tâm non yếu này sẽ bị lạc đường và chạy theo những thứ đó, nó quên mất chính mình. Rồi chúng ta nghĩ đó chính là chúng ta, đang dễ chịu, thoải mái, bối rối, đau khổ hay bất cứ điều gì khác.

Thật ra cái tâm này của chúng ta vốn bất động và an tĩnh, thật sự an tĩnh! Giống như một chiếc lá, không có gió thổi thì không lay động. Nếu có cơn gió đến, chiếc lá rung rinh. Sự xao dộng đó là do cơn gió – sự “xao động” là do những ấn tượng cảm giác; tâm đang chạy theo chúng. Nếu không chạy theo chúng, tâm không “xao động”. Nếu chúng ta thấu hiểu tự tính của các ân tượng cảm giác, chúng ta sẽ không bị xao động.

Sự tu tập của chúng ta đơn giản là để nhìn thấy cái Tâm Uên Nguyên. Do đó chúng ta phải rèn luyện tâm để biết những ấn tượng cảm giác này, và không để bị lạc lối. Để làm cho tâm trở nên thanh tịnh. Đây chính là mục tiêu của toàn bộ công cuộc tu tập mà chúng ta thực hành.

ƯỚC LỆ CỦA THẾ GIÁN

VÀ SỰ GIẢI THOÁT

 

“…Bất kể thời gian, bất kể nơi chốn, toàn bộ công việc tu Pháp cũng đều sẽ hoàn thành viên mãn tại nơi không có gì hết. Đó là nơi chốn của chấp nhận tính không, của sự buông bỏ gánh nặng...”

Mọi sự trong thế gian này đều là những quy ước do chính chúng ta tạo ra. Một khi đã tạo ra chúng, chúng ta đã đánh mất mình vào trong chúng, và không chịu buông bỏ, làm dấy sinh sự bám víu vào những quan điểm và ý kiến cá nhân. Sự chấp thủ này không bao giờ hết, đó là samsara (vòng luân hồi), sự lưu chuyển không bao giờ ngừng. Nó không có cái kết thúc. Bây giờ, nếu chúng ta hiểu được chân tướng của thực tại, chúng ta sẽ biết Sự Giải Thoát. Nếu chúng ta thấu suốt Sự Giải Thoát, khi ấy chúng ta sẽ biết Pháp.

Lấy con người làm ví dụ. Trong thực tế, người ta đâu có tên, chúng ta chỉ đơn giản là được sinh ra trần trịu trên cõi đời này. Nếu chúng ta có tên, đó là do qui ước. Tôi đã suy nghĩ về việc này và thấy rằng nếu quý vị không biết được chân tướng của qui ước này, điều đó thật sự có hại. Nó đơn giản chỉ là cái chúng ta sử dụng để tiện lợi mà thôi. Nếu không có những qui ước, chúng ta không thể trò chuyện hay giao tiếp, sẽ chẳng có gì để nói, chẳng có ngôn ngữ.

Chấp nhận, không bám víu, buông bỏ - đó là con đường của sự thoải mái, nhẹ nhàng. Bất cứ nơi nào mà bạn ôm chấp, nơi đó sẽ dấy sinh ngay cái trở thànhcái sinh ra. Có sự nguy hiểm ở ngay nơi đó. Đức Phật đã giảng giải về ước lệ và ngài đã dạy cách tiêu trừ ước lệ bằng chính đạo, và nhờ thế đạt đế Giải Thoát. Đây là sự tự do, không còn câu chấp vào các ước lệ nữa. Vạn sự trên thế gian này với chúng ta đều có qui ước. Một khi đã tạo ra chúng, chúng ta không nên để chúng lừa phỉnh, bởi vì bị đánh mất mình vào trong chúng thật sự sẽ dẫn đến đau khổ. Điều này có liên quan đến những qui tắc và ước lệ quan trọng nhất. Người có thể vượt lên trên chúng thì sẽ vượt qua khổ đau.

Tại sao chống lại các qui ước là sai? Nó sai là bởi con người! Quý vị phải thông minh hơn, biết cả qui ước lẫn giải thoát. Biết sử dụng đúng lúc đối với mỗi điều. Nếu biết cách sử dụng tốt các quy ước, chúng ta sẽ được thoải mái và an tâm. Nhưng nếu chúng ta cố gắng xử sự theo quy ước trong hoàn cảnh không thích hợp điều đó là sai. Sai ở chỗ nào? Sai ở chỗ liên quan đến những phiền trược của con người, chỉ có vậy thôi! Đâu đâu cũng có những phiền trược, uế nhiễm. Trong tình huống này, chúng ta xứ sự như thế này, trong hoàn cảnh khác chúng ta phải xử sự theo cách khác. Chúng ta phải biết sống trong những quy ước. Rắc rối xảy ra là bởi chúng ta bám víu vào chúng. Nếu chúng ta cho cái gì đó là như vậy, thế thì nó là như vậy. Sự việc đang ở đó bởi vì chúng ta cho rằng nó đang ở đó. Nhưng nếu quý vị nhìn cho thật kỹ, theo nghĩa tuyệt đối thì những điều này thật ra đâu có tồn tại.

Chúng ta là người thế tục, hoặc là những tăng nhân. Chúng ta sống trong qui ước “tục nhân”, hoặc sống trong qui ước “tăng nhân”. Như vậy, chúng ta chỉ là tăng theo qui ước, chứ không phải do giác ngộ. Chúng ta ấn định những qui ước như vậy, nhưng nếu một người chỉ đơn thuần là được thọ giới tỳ khưu, điều chỉ đơn thuần là đựơc thọ giới tỳ khưu, điều này không có nghĩa là người đó đã loại trừ được các nhiễm trược. Nếu chúng ta nắm một nắm cát và thỏa thuận gọi đó là muối, điều này có khiến chúng biến thành muối không? Nó là muối, nhưng đó chỉ là quy ước ngôn ngữ mà thôi, chứ thực tế không phải vậy. Quý vị không thể dùng nó để nấu ăn. Nó chỉ hữu dụng khi quy ước ngôn ngữ trùng hợp với nhận thức, bởi vì thật sự trong tay chúng ta chẳng có muối nào cả, chỉ là cát mà thôi. Nó trở thành muối chỉ là do quy ước ngôn ngữ sai lạc với nhận thức về thực tại.

Bản thân chữ “Giải Thoát” cũng chỉ là một qui ước, nhưng nó hàm chứa sự vượt qua khỏi những qui ước. Một khi đã đạt được tự do, một khi đa đạt được giải thoát, chúng ta cũng vẫn sẽ phải sử dụng qui ước để gọi đó là giải thoát. Nếu không có qui ước, chúng ta không thể giao tiếp với nhau, do đó quy ước có công dụng của nó.

Ví dụ, mọi người đều có tên họ khác nhau, nhưng tất cả cũng là người như nhau. Cái tên là phân biệt người này với người kia. Danh tính đáp ứng cho nhu cầu này. Thông qua chúng, chúng ta có thể giao tiếp với nhau, chúng cung cấp phương tiện cho các quan hệ xã hội.

Do đó quý vị phải biết cả qui ước lẫn giải thoát. Qui ước có công dụng, nhưng trong thực tế thật ra chẳng có gì ở trong quy ước cả. Ngay cả thân xác thân con người cũng chỉ đơn thuần là những nhóm nguyên tố, do nhân duyên mà sinh ra, phát triển phụ thuộc vào duyên, tồn tại trong một thời gian và rồi thiên hóa (biến mất, chết đi). Nhưng nếu không có những qui ước, chúng ta sẽ chẳng có gì để tư duy, chúng ta sẽ chẳng có danh tính, chẳng có khái niệm, chẳng có tu tập, chẳng có công phu. Luật tắc và quy ước được đặt ra là để mang đến cho chúng ta ngôn ngữ, để tạo tiện lợi cho tư duy, chỉ có vậy thôi.

Lấy tiền bạc làm ví dụ chẳng hạn. Vào thời cổ, chẳng có tiền đồng hay tiền giấy gì hết, con người chỉ dùng hàng hóa để trao đổi hàng hóa, nhưng những vật đó rất khó tính toán và thỏa thuận, do đó người ta tạo ra tiền bằng cách sử dụng đồng và giấy. Quý vị có thể sử dụng đơn thuần chỉ là quy ước mà chúng ta đã đặt ra, nó có công dụng bên trong cái qui ước đó. Khi qui ước nó là tiền, nó trở thành tiền. nhưng trong thực tế, tiền là gì? Chỉ là vật dụng để trao đổi và thỏa thuận về giá cả. Khi có sự đồng ý chung về điều gì đó, khi ấy qui ước xuất hiện để thỏa mãn như cầu. Thế gian pháp chính là như vậy.

Ngôn ngữ cũng như thế gian pháp đều là qui ước, nhưng để làm cho người bình thường hiểu được sự giải thoát thì quả thật là khó khăn. Tiền bạc, nhà cửa, gia đình, con cái và bà con họ hàng của chúng ta đơn thuần cũng chỉ là những qui ước chúng ta đã tạo ra, nhưng thật ra, nếu nhìn bằng ánh sáng của Pháp, những thứ này đều không thuộc về chúng ta. Có thể khi nghe được lời này, chúng ta cảm thấy không vui, nhưng sự thật là như vậy. Những thứ nay chỉ có giá trị thông qua những qui ước đã lập. Nếu chúng ta ấn định rằng nó không có giá trị, khi ấy nó không có giá trị. Đây là cách nó là như vậy thì là như vậy, chúng ta mang qui ước vào thế gian này là để thỏa mãn những nhu cầu của thế gian.

Ngay cả xác thân này cũng thật sự không phải của chúng ta, chúng chỉ giả định nó là như vậy. Quả thật nó chỉ là một sự giả định. Nếu quý vị cố gắng tìm kiếm một cái tôi hữu chất, hữu tướng bên trong nó, quý vị không thể nào tìm ra được. Chỉ có tứ đại (những yếu tố nguyên tạo nên vũ trụ: đất, nước, gió, lửa) được kết hợp, tồn tại trong một thời gian và rồi biến hóa. Mọi thứ đều giống như vậy. Chẳng có cái thực chất, thực tướng nào trong đó cả, nhưng chuyện chúng ta sử dụng nó là đúng. Nó là công cụ để quý vị sử dụng. Nếu nó hư hao thì thật là phiền toái, do đó mặc dù nó luôn hư hao đi chăng nữa, quý vị cũng luôn cố hết sức để bảo quản nó. Và do đó chúng ta có tứ sự (bốn vật trợ giúp, bốn vật dụng cần thiết, gồm y tăng, bát khất thực, chỗ ở và thuốc men), mà Đức Phật đã thường xuyên chỉ dạy, phải quan sát. Chúng là những trợ đạo phẩm mà một tỳ khưu dựa vào đó để tiếp tục công việc tu tập của mình. Chừng nào còn sống, chừng ấy quý vị còn tùy thuộc vào chúng. Nhưng quý vị đừng vì thế mà chấp thủ vào chúng, làm dấy sinh lòng tham ái trong tâm.

Ước lệ và giải thoát có mối quan hệ tương tiếp tương tương thừa với nhau như vậy. Mặc dù chúng ta sử dụng qui ước, nhưng đừng đặt lòng tin mà xem đó là thật tướng. Nếu quý vị chấp vào đó, khổ sẽ dấy sinh. Trường hợp đúng sai là một ví dụ. Một số người lấy sai làm đúng, lấy đúng làm sai, nhưng rốt cuộc ai thật sự biết cái gì là đúng và cái gì là sai? Chúng ta không biết. Người khác nhau thì có những qui ước khác nhau về cái gì là đúng và cái gì là sai, nhưng Đức Phật lấy sự khổ làm kim chỉ nam. Nếu quý vị muốn tranh luận về đúng sai, sẽ chẳng có kết cục. Người này nói “đúng”, người khác nói “sai”. Người kia nói “sai”, người nọ nói “đúng”. Thật ra, chúng ta hoàn toàn chẳng biết gì về đúng và sai cả! Nhưng ở mức độ hữu dụng, thực tiễn, chúng ta có thể nói đúng là không làm hại cho mình và không làm hại cho người. Cách này tuy đơn giản nhưng thật hữu dụng.

Như vậy, xét cho cùng, ước lệ, qui tắc và giải thoát tất cả cũng chỉ là pháp, chúng liên quan mật thiết với nhau. Chẳng có cách nào đảm bảo điều gì phải như thế này hay như thế kia, do đó Đức Phật dạy hãy cứ để nó như vậy. Cứ để nó la như vậy, trong sự vô thường của nó. Bất kể yêu thích hay ghét bỏ nó, quý vị cũng hãy hiểu rằng nó vô thường.

Bất kể thời gian, bất kể nơi chốn, toàn bộ công việc tu tập cũng đều sẽ hoàn thành viên mãn tại nơi không có gì hết. Đó là nơi chốn của sự chấp nhận, của tính không, của sự bỏ xuống gánh nặng. Đây là cái kết thúc. Điều đó không giống với việc, “Tại sao cờ lại phất phới trong gió?”. Người này nói đó là do lá cờ. Người khác nữa cho rằng đó là do gió. Chẳng có kết thúc trong câu chuyện của Lục tổ Huệ Năng khi chưa thấy mọi sự là do tâm động! Điều đó cũng giống như câu đố xưa “Con gà có trước hay quả trứng có trước?”. Chẳng có cách nào đạt được một kết luận khi chưa thấy thực tướng của vạn pháp, đây chính là tự nhiên.

Tất cả những điều chúng ta nói đây chỉ là những qui ước, chúng ta tự đặt ra chúng. Nếu quí vị hiểu biết những điều này bằng trí huệ, quí vị sẽ hiểu sự vô thường, khổ và vô ngã. Đây là cái nhìn dẫn đến giác ngộ.

Để giảng giải cho những người có căn cơ hiểu biết khác nhau quả thật rất khó. Một số người có những tư kiến nào đó và họ không tin. Quý vị nói cho họ nghe về chân lý và họ bảo điều đó là không đúng. “Tôi đúng, anh sai...”. chẳng đi tới đâu trong chuyện này cả. Nếu quý vị không buông bỏ, sẽ có khổ. Trước đây, tôi có kể cho quý vị nghe câu chuyện bốn người đi vào rừng. Họ nghe có tiếng một con gà kêu. Một người trong số họ thắc mắc, “Đó là gà trống hay gà mái?”. Ba người kia không đồng ý, anh ta nhất định đó là gà trống. “Gà mái thì làm sao kêu nh vậy được?” anh ta hỏi. Mấy người kia bèn bắt bẻ, “Chà, thì nó là gà rừng, đúng không nào?” Họ ra sức cãi cho đến khi hết sức tức giận vì chuyện này, nhưng rốt cuộc tất cả họ đều sai. Cho dù quý vị nói đó là gà trống hay gà mái đi chăng nữa, chúng cũng chỉ là những cái tên. Chúng ta đặt ra những qui ước này, nói rằng gà trống thì phải như vậy, gà mái thì phải như vậy như vậy; gà trống thì phải kêu như thế này, gà mái thì phải kêu như thế kia...đây là cách chúng ta bị chìm đắm trong cái pháp thế gian! Thật ra, nếu quý vị chỉ cần nói rằng quả thật chẳng cần phải biết gà mái hay gà trống gà hết, khi ấy mọi chuyện sẽ kết thúc. Trong thực tại qui ước, phía bên này là sai và phía bên kia là đúng, nhưng sẽ chẳng bao giờ có sự đồng tình hoàn toàn. Tranh cãi cũng chẳng có lợi ích gì!

Đức Phật dậy không được chấp. Chúng ta tu tập vô chấp ái như thế nào? Chúng ta đươn giản là từ bỏ luyến chấp, nhưng nhân thức vô luyến vô chấp rất khó hiểu. Phải có trí huệ sắc bén để quan sát và thấu hiểu tận tường, để thật sự đạt được sự luyến vô chấp. khi quý vị suy nghĩ về điều này, hãy nhớ, người ta buồn hay vui, hài lòng hay bất mãn không phải do họ có nhiều hay ít, mà là do nhận thức. Chỉ có thể vượt qua đưuọc mọi khổ đau phiền muộn thông qua nhận thức, thông qua việc nhìn thấy chân tướng của vạn pháp.

Đo đó Đức Phật đã khuyến khích chúng ta hãy quán xét, suy ngẫm. Sự “suy ngẫm” này đơn thuần có nghĩa là hãy cố gắng giải quyết các vấn nạn nhận thức này một cách đúng đắn. Đây là sự tu tập của chúng ta. Giống như sinh, lão, bệnh, tử vậy – chúng ta những biến cố tự nhiên và phổ biến. Đức Phật dạy chúng ta phải quán sát sinh, lão, bệnh, tử, nhưng một số người không hiểu điều này. “Có gì ở đó mà quan sát kia chứ?”, họ nói. Họ được sinh ra, nhưng họ không biết gì về cái sinh, họ sẽ chết nhưng họ lại chẳng biết gì về cái chết.

Người quán sát những điều này thì sẽ thấy. Một khi đã thấy đã hiểu, sẽ dần dần giải quyết được những chướng ngại của mình. Mặc dù vẫn còn bám chấp, nhưng nếu có trí huệ và hiểu rằng sinh, lão, bệnh, tử đều là cách của thiên nhiên, khi ấy có thể vơi bớt khổ. Chúng ta học Pháp đơn giản chỉ là vì điều này – đoạn diệt khổ. Nền tảng của Phật pháp thật ra chỉ có vậy, chỉ có sinh và diệt của khổ, điều này Đức Phật gọi là đế ( tức chân lý). Sinh là khổ, lão là khổ, bệnh là khổ và tử là khổ. Người ta không chịu xem sự khổ này là chân lý. Nếu chúng ta hiểu được chân lý, khi ấy chúng ta hiểu sự khổ.

Hãnh diện với cái nhìn mê lầm cá nhân, bám chấp vào đó, những tranh cãi như vậy, đều chẳng đi đến đâu hết, chẳng có kết thúc. Để giúp tâm tĩnh lặng, để tìm thấy sự yên bình, chúng ta phải suy ngẫm quá khứ, hiện tại và những điều còn chất chứa. Như sinh, lão, bệnh, tử chẳng hạn. Chúng ta có thể làm gì để tránh bị phiền lụy vì chúng? Mặc dù vẫn có thể còn chút lo âu, nhưng nếu biết quan sát, suy ngẫm cho đến khi chúng ta hiểu đúng thật tướng của chúng, mọi khổ đau sẽ tan biến, chúng ta sẽ không còn bám chấp vào đó nữa.

 

CHÍNH KIẾN – NƠI CỦA TĨNH LẶNG

 

“…Sự không thoải mái của chúng ta là do cái nhìn sai trái. Bởi chúng ta không tập luyện việc câu thúc ngũ quan cho nên chúng ta trách cứ sự khổ của mình là do ngoại cảnh…Nơi an trụ đúng đắn, nơi của sự tĩnh lặng, an nhiên tự tại, đó là chính kiến. Chúng ta chẳng nên tìm cái gì khác nữa…”

 

Thực hành Pháp là đi ngược lại với những thói quen thông thường của chúng ta, chân lý đi ngược lại với các thèm muốn thế nhân của chúng ta. Một số điều của chúng ta hiểu là sai có thể lại đúng, trong khi những điều chúng ta chấp rằng đúng có thể là sai. Tại sao vậy? bởi tâm chúng ta nằm trong bóng tối, chúng ta không nhìn thấy rõ đưuọc Chân Lý. Chúng ta thật sự không biết cái gì là đúng hay là sai và do đó bị ngu si bởi những dối trá của dục vọng. Dục vọng chỉ cái đúng là cái sai và chúng ta tin; rằng cái sai thì dục vọng cho là đúng, và chúng ta tin như vậy.

Người khôn ngoan phải quan sát và đích thân nhìn thấy nhân quả trước khi tin tưởng vào những gì mình nghe. Mặc dù nghe lời gỉang về chân lý, quý vị cũng đừng tin suông vào lời nói, bởi quý vị chưa tự mình biết được chân lý của lời nói.

Điều đó cũng vậy đối với tất cả chúng ta. Ví dụ có người nói:” việc tu hành này quả thật rất khó, quả thật rất cam go”. Nhưng tại sao việc tu hành này lại khó khăn kia chứ? Đó chỉ vì chúng ta suy nghĩ sai, chúng ta mang tà kiến.

Trước đây tôi đã vào rừng, xa lánh chỗ đông người, trốn tránh thế gian. Thế gian đầy vọng tưởng là điều quả thật đã khiến tôi bối rối, nó khiến cho tôi không ngừng chạy trốn. Nhưng cho dù sống một mình hay với những người khác, tôi cũng vẫn không có được sự bình yên. Ở một mình tôi không thấy hài lòng, ở trong một đám đông tôi cũng chẳng thấy hài lòng. Tôi cứ nghĩ sự bất mãn này là do tâm trạng của toi, do nơi tôi sinh hoạt, thức ăn, thời tiết, do cái này và cái nọ. tôi đã không ngừng tìm kiếm một cái gì đó phù hợp với tâm của mình.

Là một nhà sư dhutanga (nhà sư tu khổ hạnh), tôi đã du hóa khắp nơi, nhưng mọi chuyện cũng chẳng đúng chút nào hết. Do đó, tôi suy nghĩ,” Tôi có thể làm gì để chính mọi chuyện đây? Tôi có thể làm gì?”. Sống với nhiều người, tôi thấy không vừa lòng, với ít người tôi cũng không hài lòng. Vì lý do gì? Tôi thật không thể hiểu được. Tại sao tôi bất mãn? Bởi vì tôi đã mang tà kiến, chỉ có vậy; bởi vì tôi vẫn còn đang bám chấp vào cái sai. Bất luận đi đâu tôi cũng không thấy hài lòng, đi đâu tôi cũng suy nghĩ, “Ở đây chẳng tốt chút nào, chẳng có gì tốt hết...”, vân vân và vân vân, đại loại như thế. Tôi oán trách người khác. Tôi oán trách thời tiết, nóng nực và lạnh giá, tôi oán trách mọi thứ! Giống y như con chó điên cắn bất kỳ mọi thứ gì nó gặp, bởi vì nó điên. Khi tâm như vậy, việc tu tập của chúng ta chẳng bao giờ an định được. Hôm nay chúng ta cảm thấy vui, ngày mai lại cảm thấy buồn. Lúc nào nõ cũng sẽ như vậy. Chúng ta không đạt được sự hài lòng hay tĩnh lặng.

Ngày kia, Đức Phật nhìn thấy một con chó sói, từ trong rừng, chỗ ở của nó, chạy ra chỗ ngài đang ngồi. Nó đứng yên một lúc, rồi bỏ chạy vào bụi rậm, và rồi lại chạy ra lần nữa. Thế rồi nó chạy vào một cái hang, để rồi lại chẩy lần nữa. Lúc thì nó đứng, kế đó nó lại chạy, rồi nó lại nằm, thế rồi nó nhảy chồm lên... Con chó sói đó đang bị bệnh chốc lở. Khi nó đứng, chốc lở sẽ cắn vào da của nó, thế nên nó chạy. Khi chạy, nó cũng chẳng thấy dễ chịu chút nào, do đó mà nó nằm. Thế rồi nó sẽ nhảy dựng lên, chạy vào bụi rậm, chui vào thân cây rỗng, chẳng bao giờ chịu đứng yên hết.

Đức Phật nói, “Này các tỳ khưu, các ông có thấy con chó sói lúc chiều nay không? Đứng nó cũng khổ, chạy nó cũng khổ, ngồi nó cũng khổ, nằm nó cũng khổ. Chui trong bụi rậm, vào thân cây rỗng hay vào hang nó cũng khổ. Nó đổ lỗi là do đứng không thoải mái, nó trách là do ngồi nên không thoải mái, nó đổ thừa là tại việc chạy và việc nằm; nó đổ thừa cho cội cây, bụi rậm và hang đá. Thật ra vấn đề không ở cái nào trong số những thứ này. Con chó sói đó bị chứng chốc lở. Vấn đề là nằm ở cái chứng chốc lở đó.

Chúng ta cũng giống như con sói. Sự không thoải mái của chúng ta là do cái nhìn sai trái. Bởi vì chúng ta không tập luyện việc câu thúc ngũ quan cho nên chúng ta trách cứ sự khổ của mình là do ngoại cảnh. Cho dù chúng ta sống ở đâu đi nữa, chúng ta cũng đều khong hài lòng. Dù đến sống trong rừng sâu hay bất kỳ thiền viện nào khác, chúng ta cũng vẫn không vừa lòng. Tại sao vậy? Bởi chúng ta còn mang tà kiến nên cho dù đi đến đâu chúng ta cũng vẫn không hài lòng.

Nhưng cũng chính con chó đó khi được chữa hết chứng chốc lở thì nó sẽ hài lòng, bất luận là nó đang đi đâu. Đối với chúng ta cũng vậy. Tôi thường suy ngẫm về điều này, và tôi thường giảng cho quý vị nghe về điều này, bởi vì nó rất quan trọng. Nếu hiểu được chân tướng của các tâm trạng khác nhau của mình, chúng ta sẽ thấy hài lòng. Cho dù trời nóng nực hay lạnh giá, chúng ta cũng thấy mãn nguyện, toại ý, sống với nhiều người hay ít người chúng ta cũng thấy hài lòng. Sự hài lòng không phụ thuộc việc chúng ta sống chung với xã hội hay ẩn tu trong rừng, mà nó chỉ xuất phát từ chánh kiến. Nếu có chánh kiến, khi ấy cho dù đang ở đâu chúng ta cũng thấy hài lòng.

Nhưng phần lớn chúng ta đều đang mang tà kiến và do đó, có cái nhìn sai trái. Điều này cũng tương tự khi bậc tôn sư dạy chúng ta hãy nhìn cho thật đúng. Chúng ta chống lại, bởi lời đó khiến chúng ta cảm thấy không dễ chịu. Chúng ta tìm cách quay trở lại với nơi chúng ta cảm thấy an tâm, thoải mái. Hết thảy chúng ta đều như vậy. Nếu không nhìn thấy những hệ quả xấu do tất cả tà kiến mang lại, chúng ta không thể từ bỏ chúng được, việc tu tập thật là khó khăn.

Nếu có chính kiến, bất kể đến đâu chúng ta cũng được hài lòng. Nơi an trụ đúng đắn, nơi của sự tĩnh lặng, an nhiên tự tại, chính là sự chính kiến. Chúng ta chẳng nên tìm cái gì khác nữa.

Do đó, mặc dù quý vị có thể là đang không thấy hạnh phúc, điều đó không thành vấn đề, cái không hạnh phúc đó là vô thường, không có gì chắc chắn cả. Có phải cái không hạnh phúc đó là “cái tôi” của quý vị? Nó có chút thực chất nào không? Nó có tồn tại thật không? Tôi không thấy nó có thật chút nào cả. Khổ đau chỉ là một tia chớp của cảm xúc, hiện ra và rồi mất đi. Hạnh phúc cũng như vậy. Có phải hạnh phúc có sự nhất quán, kiên định? Nó có phải là một thực thể không? Nó đơn thuần chỉ là một cảm xúc thình lình vụt lóe lên rồi mất đi. Thế đấy! Nó được sinh ra và rồi mất đi. Tình yêu cũng chỉ vụt sáng trong khoảnh khắc và rồi biến mất. Đâu là cái thường còn trong tình yêu, sự sân hận hay lòng bất mãn?

Thật ra, chẳng có chút thật chất nào trong đóc cả, chúng chỉ là những ấn tượng bùng lên trong tâm và rồi tắt mất. Chúng không ngừng phỉnh gạt chúng ta, chúng ta không tìm thấy sự chắc chắn nào ở bất kỳ đâu cả. Như Đức Phật dã dạy, khi khổ đau dấy dinh, nó trụ lại một lát rồi biến mất. Khi khổ đau biến mất, hạnh phúc dấy sinh, nấn ná một lúc rồi biến mất. Khi hạnh phúc biến mất, khổ đau lại khởi sinh... vân vân và vân vân, cứ như thế.

Rốt cuộc chúng ta chỉ có thể nói như thế này- ngoài sự sinh ra, sống và chết đi của khổ, chẳng có gì hết. Nhưng chúng ta vô minh cho nên không ngừng bám víu vào nó. Chúng ta chẳng bao giờ nhìn thấy thật tướng của nó, rằng điều đó đơn giản là vô thường. Nếu hiểu được điều này, khi ấy chúng ta không cần phải suy nghĩ nhiều, nhưng chúng ta không cần suy nghĩ nhiều, nhưng chúng ta có nhiều trí huệ. Nếu không biết điều đó, khi ấy chúng ta sẽ có sự suy nghĩ nhiều hơn là có trí huệ - và có thể là chẳng có chút trí huệ nào cả! Tuyệt đối không cho đến khi chúng ta thật sự nhìn thấy những ác quả do nghiệp của chúng ta tạo ra, mà chúng ta không thể từ bỏ. Nói cách khác, tuyệt đối không cho đến khi chúng ta nhìn thấy những lợi ích thật sự của việc tu tập mà chúng ta có thể theo đuổi và bắt đầu ra sức để làm cho tâm trở nên “thiện chính”.

Nếu chúng ta chặt một khúc gõ và thả xuống sông, khúc gỗ đó không bị chìm hay bị hư mục, không bị mắc kẹt và bờ bên này hay bờ bên kia, thì dứt khoát khúc gỗ đó sẽ trôi thẳng ra biển. Việc tu tập của chúng ta cũng vậy. Nếu quý vị tu hành theo con đường mà Đức Phật đã dạy, đi thẳng theo nó, không cong không quẹo, quý vị sẽ vượt qua được hai điều. Hai điều gì? Chính là hai cực đoan mà Đức Phật đã nói không phải con đường của người tu hành chân chính – ái dục và ái khổ. Đây là hai bên bờ sông. Một bên bờ của con sông đó là sân hận, còn bờ bên kia là yêu thương. Hoặc quý vị có thể nói một bên bờ là hạnh phúc, còn bờ bên kia là khổ đau. “Khúc gỗ” chính là tâm. Khi nó “chảy xuôi theo dòng sông”, nó sẽ trải nghiệm hạnh phúc và khổ đau. Nếu tâm không bám dính vào hạnh phúc hay khổ đau, nó chảy thẳng ra “biển” Niết Bàn. Quý vị phải thấy rằng chẳng có cái gì khác ngoài việc dấy sinh và biến mất của khổ đau và hạnh phúc. Nếu quý vị không bị “mắc kẹt” vào những thứ này, khi ấy quý vị đang đi trên con đường chân chính.

Đây là lời dạy của Đức Phật. Hạnh phúc, khổ đau, ái (yêu) và ố (ghét), đơn giản là đều được tạo ra theo qui luật thường hằng của tự nhiên. Trí giả thì không đi theo cũng không khuyến khích chúng, không luyến ái chúng. Đây là cái tâm buông bỏ ái lạc và ái khổ. Đó là chánh hạnh (sự tu hành đúng đắn). Giống như khúc gỗ cuối cùng sẽ trôi ra biển cả, cái tâm mà không chấp ái vào hai cực đoan này tất nhiên sẽ đạt được tĩnh lặng.

KHÔNG NƯƠNG DỰA VÀO ĐÂU HẾT

 

“...Cách của thế gian là làm mọi việc để đạt được sự hồi báo nào đó, nhưng trong Phật đạo, chúng ta làm mọi việc mà không tìm kiếm sự hồi báo...Chúng ta tu tập mà không mong muốn bất cứ điều gì. Nếu không mong muốn, vậy thì chúng ta sẽ được gì? Chúng ta sẽ không nhận được bất cứ điều gì cả! Bất cứ điều gì quý vị nhận được cũng đều là nguyên nhân của khổ, do đó chúng ta tu tập mà không cần phải để thu lại bất kỳ thứ gì...chỉ cần làm cho tâm an tĩnh và thực hiện với thái độ không cầu không chấp, vậy thôi!...”

 

Chúng ta nghe một số lời pháp và thật sự có thể chưa hiểu chúng. Chúng ta nghĩ chúng không nên diễn ta theo cách chúng đang là, do đó chúng ta không nghe theo những lời pháp đó, nhưng thật ra có một lý do trong tất cả lời pháp. Có thể dường như mọi sự không nên diễn ra theo cách đó, nhưng chúng đang là như vậy. Lúc đầu thậm chí tôi cũng không tin tưởng việc ngồi thiền. tôi  không thể hiểu được việc ngồi với đôi mắt nhắm thì sẽ có ích lợi gì. Còn thiền hành (thiền khi đi) nữa ....đi từ cội cây này, vòng qua, rồi đi trở lại...”Tại sao phải như vậy chứ?”, tôi  nghĩ, “Toàn bộ chuyện này có lợi ích gì?” Tôi đã nghĩ như vậy, nhưng thiền hành và thiền tọa quả thật hết sức hữu ích.

Khuynh hướng của một số người khiến họ chuộng thiền hành, những người khác thì thích thiền tọa, nhưng quý vị không thể hành mà không dùng đến một trong hai. Trong kinh sách có nói về bốn tư thế: đi, đứng, nằm và ngồi. Chúng ta sống với bốn tư thế đó. Chúng ta có thể chuộng cái này hơn cái kia, nhưng chúng ta phải sử dụng cả bốn.

Chúng ta được dạy là phải sử dụng đều cả bốn tư thế này, để làm việc cho hành tập đồng đều ở bốn tư thế. Lúc đầu tôi không thể hiểu điều này có nghĩa là gì. Có nghĩa là chúng ta ngủ hai tiếng đồng hồ, rồi đứng hai tiếng, đi hai tiếng? Tôi đã thử làm – không thể làm được, điều đó là không thể! Tạo quân bình trong cả bốn tư thế là không thể! Tạo quân bình trong cả bốn tư thế không có nghĩa là như vậy. “Tạo quân bình trong cả bốn tư thế” có ý chỉ đến tâm, đến thức của chúng ta. Tức là, làm cho tâm khởi sinh trí huệ, làm cho tâm trở nên sáng tỏ. Trí huệ của chúng ta phải có mặt trong mọi tư thế; chúng ta phải biết, hay hiểu, một cách thường trực. Đi, đứng, nằm hay ngồi, chúng ta đều biết tất cả các trạng thái của tâm là vô thường, khổ và vô ngã. Tạo quân bình trong cả bốn tư thế theo cách này là khả thi, có thể chấp nhận được. Cho dù tâm đang thích hay không thích, chúng ta cũng không quên việc hành trì của mình, chúng ta đang ý thức, đang biết.

Nếu chúng ta tập trung sự chú ý không ngừng vào tâm, khi ấy chúng ta hiểu được cốt lõi của pháp môn. Cho dù chúng ta đang trải qua những trạng thái của tâm mà thế gian gọi là thiện hay ác, chúng ta cũng không quên mất mình, chúng ta không bị lạc lối trong thiện hay ác. Chúng ta chỉ đi thẳng. Tạo sự quân bình trong các tư thế theo cách này là khả thi. Nếu chúng ta có sự kiên định, bất biến trong tu tập và chúng ta được khen, nó đơn giản cũng chỉ là lời khen; nếu chúng ta bị chê, nó đơn giản cũng chỉ là lời chê. Chúng ta không thấy phấn chấn lên hay bị thiểu não, chúng ta vẫn đang ở ngay chỗ đó. Tại sao? Bởi vì chúng ta nhìn thấy cạm bẫy trong tất cả những điều này, chúng ta nhìn thấy hậu quả của chúng. Chúng ta không ngừng ý thức về cạm bẫy trong lời khen lẫn tiếng chê. Bình thường, nếu chúng ta gặp tình trạng tốt, tâm cũng có trạng thái tốt và chúng ta nhìn thấy chúng; nếu chúng ta gặp tình trạng không tốt, tâm cũng mang trạng thái không tốt, chúng ta không muốn điều đó. Đây là cách nó đang là, đây là sự tu tập thiếu cân bằng.

Nếu giữ được sự cân bằng chỉ cần trong chừng mực biết các tâm trạng của mình, và biết chúng ta đang bám chấp vào chúng, điều ấy cũng đã là tốt lắm rồi. Tức là, ở đó có sự biết, chúng ta biết những gì đang diễn ra, nhưng thực sự chúng ta vẫn chưa thể buông bỏ. Chúng ta nhìn thấy mình đang bám chấp vào tốt và xấu, và chúng ta biết điều đó. Chúng ta bám chấp vào cái tốt và biết rằng điều đó vẫn chưa phải là chính hạnh, nhưng chúng ta vẫn chưa thể buông bỏ. Vậy là đã đạt được 50% hay 70% pháp hành. Vẫn chưa phải là giải thoát hẳn, nhưng chúng ta biết nếu có thể buông bỏ được, đấy sẽ là con đường dẫn đến an tĩnh. Chúng ta tiếp tục tiến bước, không ngừng nhìn thấy những hậu quả có hại không khác gì nhau của mọi sự ái (yêu) và ố (ghét), khen và chê. Bất kể là gì, tâm cũng bất biến.

Nhưng đối với thế nhân, nếu bị trách mắng hay chê bai, họ thật sự thấy khó chịu, đau khổ. Nếu được khen, họ thấy phấn khởi, họ nói đó là tốt và thật sự thấy hạnh phúc. Nếu thấu hiểu chân tướng của những tâm trạng khác nhau của mình, nếu thấu hiểu hậu quả cảu sự bám víu vào khen chê, mối nguy hiểm của sự chấp ái vào bất kỳ điều gì, chúng ta sẽ trở nên thấu suốt với các tâm trạng của mình. Chúng ta sẽ hiểu rằng bám chấp vào chúng thật sự gây nên khổ. Chúng ta nhìn thấy sự khổ này, và chúng ta hiểu chính sự luyến ái của chúng ta là nguyên nhân của khổ. Chúng ta bắt đầu nhìn thấy hậu quả của sự luyến ái và bám chấp vào thiện ác, bởi vì chúng ta đã ôm ấp chúng và đã nhìn thấy kết quả - chẳng có hạnh phúc thật sự nào hết. Do đó chúng ta tìm kiếm con đường buông bỏ.

“Con đường buông bỏ” này ở đâu? Trong Phật pháp, chúng ta nói “Đừng bám chấp vào bất cứ gì”. Chúng ta không ngừng được nghe về cái  “đừng bám chấp vào bất cứ gì!”. Điều ấy có nghĩa là thấy và sống với tất cả, nhưng không níu giữ.

Nếu hoàn toàn chẳng giữ bất cứ thứ gì, vậy thì chúng ta có thể làm được gì? Chúng ta phải thấy và sống với mọi thứ. Đó là nhận thức, nhưng về sau nó dẫn đến (ba la mật, tức sự viên mãn hay đức hạnh). Nhưng khi sự dấy sinh, đừng bám chấp vào nó! Sự vật là gì? Chúng ta cầm một vật lên, nhìn vào nó và thấy, rồi chúng ta đặt nó xuống. Điều này được gọi là cầm nhưng không giữ, chúng ta buông bỏ. Nói một cách đơn giản, chúng ta chỉ cần nói như thế này, “Hãy biết, rồi buông bỏ”. Hãy tiếp tục biết và buông bỏ. “Điều này, người ta nói là tốt; điều này, người ta nói là xấu”...hãy biết, và rồi buông bỏ. Tốt và xấu, chúng ta biết tất cả, nhưng chúng ta buông bỏ. Chúng ta không ôm chấp mọi thứ, chúng ta chỉ “cầm”chúng bằng trí huệ. Việc tu tập theo “nhận thức” này có thể trở thành đức hạnh. Quý vị phải trở nên đức hạnh giống như vậy. Hãy làm cho tâm biết theo cách này, hãy làm cho trí huệ khởi sinh. Khi đã có trí huệ, còn cái gì khác ở đó nữa để mà tìm?

Chúng ta phải quan sát những gì chúng ta đang làm ở đây. Vì lý do gì chúng ta sống trên cõi đời này, chúng ta đang làm gì? Trong thế gian, người ta làm việc để được hưởng thứ này hay thứ khác, nhưng Đức Phật dạy điều gì đó sâu xa hơn. Bất kể làm gì, chúng ta cũng không mong cầu được báo đáp. Chúng ta làm việc không phải để được thọ hưởng. Thế nhân thì làm việc bởi vì họ muốn cái này hay cái kia, bởi vì họ muốn lợi lộc này hay lợi lộc khác, nhưng Đức Phật dạy hãy làm việc chỉ để làm việc, chúng ta không mong cần bất cứ điều gì. Nếu quý vị làm điều gì đó chỉ để được đền đáp, điều đó sẽ sinh ra khổ. Hãy tự mình làm như vậy thử xem! Quý vị muốn làm cho tâm an tĩnh, do đó quý vị ngồi xuống và cố gắng làm cho nó an tĩnh – quý vị sẽ khổ! Cứ thử đi. Con đường của chúng ta tế nhị hơn. Chúng ta làm, và rồi buông bỏ; làm, và rồi buông bỏ.

Nhiều người cúng bái vì có sự mong muốn nào đó. Những hành động đó sẽ chẳng giúp họ vượt qua khổ, bởi vì họ đang hành động dựa trên khao khát. Lúc đầu, chúng ta tu tập với ham muốn nào đó trong tâm: chúng ta tu tập rồi lại tu tập, nhưng chúng ta chẳng đạt được khát vọng của mình. Chúng ta phải tu tập cho đến khi đạt đến cảnh giới mà tại đấy chúng ta không mong cầu gì hết, chúng ta tu tập là để buông bỏ. Đây là điều mà chúng ta phải tự nhìn thấy, nó rất thâm sâu. Có thể chúng ta tu hành bởi vì muốn đạt đến Niết bàn, nhưng ngay tại điểm đó quý vị sẽ không thể nào đạt được đến Niết bàn! Muốn tĩnh lặng là điều rất tự nhiên, nhưng nó chưa thật sự đúng. Chúng ta phải tu tập mà không mong muốn bất cứ điều gì kể cả mong muốn sự tĩnh lặng. Nếu không mong muốn bất cứ điều gì, vậy thì chúng ta sẽ được gì? Chúng ta sẽ không nhận được bất cứ thứ gì! Bất cứ điều gì quý vị nhận được cũng đều là nguyên nhân của khổ, do đó chúng ta tu tập mà không phải để thu góp hay tìm kiếm bất cứ thứ gì.

Chính điều này được gọi là “làm cho tâm trống không”. Nó trống không, nhưng vẫn có sự làm việc. Không phải nó trống không ở chỗ chúng ta chẳng thể nhìn thấy cái gì, không phả i vậy. Hiểu như vậy là đã hiểu sai. Quý vị phải thấy sự trống không bên trong những thứ đang hiện hữu.

Những ai vẫn còn đang tu tập vì cái lợi nào đó thì cũng giống như người cúng bái để đưuọc toại nguyện mơ ước nào đấy. Giống như nhũng người tu tập để được sống hạnh phúc, thoải mái và vô bệnh. Họ sẽ chẳng bao giờ tu tập theo cách đó được. Cách của thế gian là làm mọi việc vì một lý do nào đó, để đạt được sự hồi báo nào đó, nhưng trong Phật đạo chúng ta làm mọi việc mà không mong có sự hồi báo nào hết. Thế gian hiểu mọi chuyện trong khuôn khổ nhân quả, nhưng Đức Phật dạy chúng ta phải vượt lên trên nhân, vượt ra ngoài quả; vượt lên trên sinh và vượt ra ngoài tử; vượt lên trên lạc và vượt ra ngoài khổ. Hãy suy nghĩ về điều này... Không nương dựa vào đâu hết. Chúng ta đang sống trong một “ngôi nhà”. Hãy rời khỏi nhà và đi đến nơi mà chẳng có ngôi nhà nào hết...chúng ta không biết làm thế nào để làm được điều này bởi vì chúng ta luôn luôn sống với sự níu giữ, vơi sự bám chấp. Nếu không bám chấp, chúng ta không biết phải làm gì.

Nếu hiểu rõ về Niết bàn, sẽ thấy chẳng có gì ở nơi đó cả; hoàn toàn chẳng có gì. Hãy nhìn vào mái nhà và sàn nhà ở đây xem. Cái cao nhất bên trên là mái, đó là một chỗ “trú”. Cái thấp nhất bên dưới là sàn, và đó lại là một chỗ “trú” khác nữa. Những trong cái không gian trống không giữa mái nhà và sàn thì chẳng có nơi nào để trú cả. Người ta không thể đứng trên cái không gian trống không đó. Chẳng có nơi nào để nương dựa, đó là nơi có sự hư không, và, nói một cách rõ ràng, Niết bàn chính là sự hư không này. Mọi người nghe thấy thế và lùi bước, họ không muốn đến nơi trống không.

Đây là lý do tại sao, khi chúc phúc, chúng ta hay nói, “Cầu cho quý vị được trường thọ, đẹp, hạnh phúc và khỏe mạnh”. Điều này khiến họ hoan hỉ. Họ thích những lời như vậy. Nếu quý vị giảng về hư không, họ không muốn nghe, họ đã chấp vào sự hữu. Điều này cũng giống như người cúng bái để đạt được mong ước nào đó vậy. Trong việc tu tập của mình, chúng ta không tu để nhận được sự hồi báo nào đó. Chúng ta không mong muốn bất cứ điều gì. Nếu chúng ta vẫn còn muốn điều gì đó, khi ấy vẫn khiến tâm bị vọng tưởng. Chỉ cần làm cho tâm an tĩnh và thực hiện thái độ không cầu không chấp, vậy thôi! Nhưng nếu tôi nói như vậy quý vị có thể không thấy dễ chịu cho lắm, bởi quý vị chấp vào sự hữu.

Đức Phật nói, “Này A Nan, hãy tu hành cho thật nhiều, hãy phát triển sự tu tập của ông! Bất kỳ ai nhìn thấy Pháp tức là nhìn thấy Như Lai, và bất kỳ ai nhìn thấy Như Lai thì nhìn thấy Pháp”. Đức Phật ở đâu? Chúng ta có thể nghĩ Đức Phật đã từng tại thế và đã tịch diệt, nhưng Đức Phật chính là Pháp, Chân lý. Một số người thích nói, “Ồ giá mà tôi được sinh ra vào thời của Đức Phật, tôi đã đạt đến giác ngộ rồi”. Nhưng Đức Phật vẫn còn đang ở đây. Đức Phật là chân lý. Bất kể ai sinh ra hay chết đi cũng không thành vấn đề, chân lý cũng vẫn đang ở đây. Chân lý chưa bao giờ lìa khỏi thế gian này, nó luôn luôn vẫn ở đó. Cho dù Đức Phật có đản sinh hay tịch diệt, cho dù người ta biết hay không biết, chân lý vẫn đang ở đó. Do đó chúng ta gần gũi với Phật, chúng ta nên đi vào bên trong chính mình và tìm Pháp. Khi chúng ta gặp được Pháp, chúng ta sẽ gặp được Phật; khi thấy Pháp, chúng ta sẽ thấy Phật và mọi nghi hoặc sẽ đều tan biến.

Quá trình học để trở thành bậc giác ngộ đó không hề sinh ra từ đâu hay biến mất đi đâu cả, giống như Chân Lý vậy, mà chính là cái biết khiến Phật trở thành Phật. Do đó Đức Phật vẫn còn đang ở đây. Bất kỳ ai tu hành và thấy Pháp đều thấy Phật. Nhiều người hoàn toàn mê ngộ về điều này, họ không biết Phật ở đâu. Họ nói, “giá mà được sinh ra vào thời Đức Phật thì tôi đã trở thành đệ tử của ngài và đã giác ngộ rồi”. Đó là lời lẽ của vô minh.

Trong tích tắc, khi một ý nghĩa bất thiện có thể dấy sinh trong tâm, quý vị có thể làm hại ai đó. Tương tự, một ý nghĩ thiện chỉ cần trong nháy mắt là có thể vụt lóe lên trong tâm, và quý vị đã đến được nơi cần đến. Đừng nghĩ rằng quý vị phải xuất gia thì mới có thể thiền được. Cái nơi ở của chánh hạnh chính là cái khoảnh khắc chúng ta đang tạo nghiệp. Trong chớp mắt, một tà kiến dấy sinh, trước khi quý vị kịp biết nó, quý vị đã phạm phải một nghiệp ác thật sự. Và cũng vậy, tất cả đệ tử của Phật đều đã tu tập một thời gian dài, nhưng lúc mà họ đạt ngộ cũng chỉ là một nát sa thấu suốt. Vì vậy, chớ nên để tâm giải đãi (lười biếng, cẩu thả), ngay cả trong những việc nhỏ. Hãy cố gắng tinh cần, hãy cố gắng quán chiếu mọi điều, và rồi quý vị sẽ hiểu về Pháp.

 

 

 

 

 

 

 

ĐÁNH GIÁ SẢN PHẨM

Sản phẩm đã xem

0₫ 0₫
Facebook Instagram Youtube Top