} catch (e) {}; //]]>
Giỏ hàng

Hương Vị Của Giải Thoát - Ước Lệ Thế Gian Và Sự Giải Thoát

HƯƠNG VỊ CỦA GIẢI THOÁT 

ƯỚC LỆ CỦA THẾ GIÁN

VÀ SỰ GIẢI THOÁT

 

   “…Bất kể thời gian, bất kể nơi chốn, toàn bộ công việc tu Pháp cũng đều sẽ hoàn thành viên mãn tại nơi không có gì hết. Đó là nơi chốn của chấp nhận tính không, của sự buông bỏ gánh nặng...”

   Mọi sự trong thế gian này đều là những quy ước do chính chúng ta tạo ra. Một khi đã tạo ra chúng, chúng ta đã đánh mất mình vào trong chúng, và không chịu buông bỏ, làm dấy sinh sự bám víu vào những quan điểm và ý kiến cá nhân. Sự chấp thủ này không bao giờ hết, đó là samsara (vòng luân hồi), sự lưu chuyển không bao giờ ngừng. Nó không có cái kết thúc. Bây giờ, nếu chúng ta hiểu được chân tướng của thực tại, chúng ta sẽ biết Sự Giải Thoát. Nếu chúng ta thấu suốt Sự Giải Thoát, khi ấy chúng ta sẽ biết Pháp.

   Lấy con người làm ví dụ. Trong thực tế, người ta đâu có tên, chúng ta chỉ đơn giản là được sinh ra trần trụi trên cõi đời này. Nếu chúng ta có tên, đó là do qui ước. Tôi đã suy nghĩ về việc này và thấy rằng nếu quý vị không biết được chân tướng của qui ước này, điều đó thật sự có hại. Nó đơn giản chỉ là cái chúng ta sử dụng để tiện lợi mà thôi. Nếu không có những qui ước, chúng ta không thể trò chuyện hay giao tiếp, sẽ chẳng có gì để nói, chẳng có ngôn ngữ.

   Chấp nhận, không bám víu, buông bỏ - đó là con đường của sự thoải mái, nhẹ nhàng. Bất cứ nơi nào mà bạn ôm chấp, nơi đó sẽ dấy sinh ngay cái trở thànhcái sinh ra. Có sự nguy hiểm ở ngay nơi đó. Đức Phật đã giảng giải về ước lệ và ngài đã dạy cách tiêu trừ ước lệ bằng chính đạo, và nhờ thế đạt đế Giải Thoát. Đây là sự tự do, không còn câu chấp vào các ước lệ nữa. Vạn sự trên thế gian này với chúng ta đều có qui ước. Một khi đã tạo ra chúng, chúng ta không nên để chúng lừa phỉnh, bởi vì bị đánh mất mình vào trong chúng thật sự sẽ dẫn đến đau khổ. Điều này có liên quan đến những qui tắc và ước lệ quan trọng nhất. Người có thể vượt lên trên chúng thì sẽ vượt qua khổ đau.

   Tại sao chống lại các qui ước là sai? Nó sai là bởi con người! Quý vị phải thông minh hơn, biết cả qui ước lẫn giải thoát. Biết sử dụng đúng lúc đối với mỗi điều. Nếu biết cách sử dụng tốt các quy ước, chúng ta sẽ được thoải mái và an tâm. Nhưng nếu chúng ta cố gắng xử sự theo quy ước trong hoàn cảnh không thích hợp điều đó là sai. Sai ở chỗ nào? Sai ở chỗ liên quan đến những phiền trược của con người, chỉ có vậy thôi! Đâu đâu cũng có những phiền trược, uế nhiễm. Trong tình huống này, chúng ta xứ sự như thế này, trong hoàn cảnh khác chúng ta phải xử sự theo cách khác. Chúng ta phải biết sống trong những quy ước. Rắc rối xảy ra là bởi chúng ta bám víu vào chúng. Nếu chúng ta cho cái gì đó là như vậy, thế thì nó là như vậy. Sự việc đang ở đó bởi vì chúng ta cho rằng nó đang ở đó. Nhưng nếu quý vị nhìn cho thật kỹ, theo nghĩa tuyệt đối thì những điều này thật ra đâu có tồn tại.

   Chúng ta là người thế tục, hoặc là những tăng nhân. Chúng ta sống trong qui ước “tục nhân”, hoặc sống trong qui ước “tăng nhân”. Như vậy, chúng ta chỉ là tăng theo qui ước, chứ không phải do giác ngộ. Chúng ta ấn định những qui ước như vậy, nhưng nếu một người chỉ đơn thuần là được thọ giới tỳ khưu, điều chỉ đơn thuần là đựơc thọ giới tỳ khưu, điều này không có nghĩa là người đó đã loại trừ được các nhiễm trược. Nếu chúng ta nắm một nắm cát và thỏa thuận gọi đó là muối, điều này có khiến chúng biến thành muối không? Nó là muối, nhưng đó chỉ là quy ước ngôn ngữ mà thôi, chứ thực tế không phải vậy. Quý vị không thể dùng nó để nấu ăn. Nó chỉ hữu dụng khi quy ước ngôn ngữ trùng hợp với nhận thức, bởi vì thật sự trong tay chúng ta chẳng có muối nào cả, chỉ là cát mà thôi. Nó trở thành muối chỉ là do quy ước ngôn ngữ sai lạc với nhận thức về thực tại.

   Bản thân chữ “Giải Thoát” cũng chỉ là một qui ước, nhưng nó hàm chứa sự vượt qua khỏi những qui ước. Một khi đã đạt được tự do, một khi đã đạt được giải thoát, chúng ta cũng vẫn sẽ phải sử dụng qui ước để gọi đó là giải thoát. Nếu không có qui ước, chúng ta không thể giao tiếp với nhau, do đó quy ước có công dụng của nó.

   Ví dụ, mọi người đều có tên họ khác nhau, nhưng tất cả cũng là người như nhau. Cái tên là phân biệt người này với người kia. Danh tính đáp ứng cho nhu cầu này. Thông qua chúng, chúng ta có thể giao tiếp với nhau, chúng cung cấp phương tiện cho các quan hệ xã hội.

Do đó quý vị phải biết cả qui ước lẫn giải thoát. Qui ước có công dụng, nhưng trong thực tế thật ra chẳng có gì ở trong quy ước cả. Ngay cả thân xác thân con người cũng chỉ đơn thuần là những nhóm nguyên tố, do nhân duyên mà sinh ra, phát triển phụ thuộc vào duyên, tồn tại trong một thời gian và rồi thiên hóa (biến mất, chết đi). Nhưng nếu không có những qui ước, chúng ta sẽ chẳng có gì để tư duy, chúng ta sẽ chẳng có danh tính, chẳng có khái niệm, chẳng có tu tập, chẳng có công phu. Luật tắc và quy ước được đặt ra là để mang đến cho chúng ta ngôn ngữ, để tạo tiện lợi cho tư duy, chỉ có vậy thôi.

   Lấy tiền bạc làm ví dụ chẳng hạn. Vào thời cổ, chẳng có tiền đồng hay tiền giấy gì hết, con người chỉ dùng hàng hóa để trao đổi hàng hóa, nhưng những vật đó rất khó tính toán và thỏa thuận, do đó người ta tạo ra tiền bằng cách sử dụng đồng và giấy. Quý vị có thể sử dụng đơn thuần chỉ là quy ước mà chúng ta đã đặt ra, nó có công dụng bên trong cái qui ước đó. Khi qui ước nó là tiền, nó trở thành tiền. nhưng trong thực tế, tiền là gì? Chỉ là vật dụng để trao đổi và thỏa thuận về giá cả. Khi có sự đồng ý chung về điều gì đó, khi ấy qui ước xuất hiện để thỏa mãn như cầu. Thế gian pháp chính là như vậy.

   Ngôn ngữ cũng như thế gian pháp đều là qui ước, nhưng để làm cho người bình thường hiểu được sự giải thoát thì quả thật là khó khăn. Tiền bạc, nhà cửa, gia đình, con cái và bà con họ hàng của chúng ta đơn thuần cũng chỉ là những qui ước chúng ta đã tạo ra, nhưng thật ra, nếu nhìn bằng ánh sáng của Pháp, những thứ này đều không thuộc về chúng ta. Có thể khi nghe được lời này, chúng ta cảm thấy không vui, nhưng sự thật là như vậy. Những thứ nay chỉ có giá trị thông qua những qui ước đã lập. Nếu chúng ta ấn định rằng nó không có giá trị, khi ấy nó không có giá trị. Đây là cách nó là như vậy thì là như vậy, chúng ta mang qui ước vào thế gian này là để thỏa mãn những nhu cầu của thế gian.

   Ngay cả xác thân này cũng thật sự không phải của chúng ta, chúng chỉ giả định nó là như vậy. Quả thật nó chỉ là một sự giả định. Nếu quý vị cố gắng tìm kiếm một cái tôi hữu chất, hữu tướng bên trong nó, quý vị không thể nào tìm ra được. Chỉ có tứ đại (những yếu tố nguyên tạo nên vũ trụ: đất, nước, gió, lửa) được kết hợp, tồn tại trong một thời gian và rồi biến hóa. Mọi thứ đều giống như vậy. Chẳng có cái thực chất, thực tướng nào trong đó cả, nhưng chuyện chúng ta sử dụng nó là đúng. Nó là công cụ để quý vị sử dụng. Nếu nó hư hao thì thật là phiền toái, do đó mặc dù nó luôn hư hao đi chăng nữa, quý vị cũng luôn cố hết sức để bảo quản nó. Và do đó chúng ta có tứ sự (bốn vật trợ giúp, bốn vật dụng cần thiết, gồm y tăng, bát khất thực, chỗ ở và thuốc men), mà Đức Phật đã thường xuyên chỉ dạy, phải quan sát. Chúng là những trợ đạo phẩm mà một tỳ khưu dựa vào đó để tiếp tục công việc tu tập của mình. Chừng nào còn sống, chừng ấy quý vị còn tùy thuộc vào chúng. Nhưng quý vị đừng vì thế mà chấp thủ vào chúng, làm dấy sinh lòng tham ái trong tâm.

   Ước lệ và giải thoát có mối quan hệ tương tiếp tương tương thừa với nhau như vậy. Mặc dù chúng ta sử dụng qui ước, nhưng đừng đặt lòng tin mà xem đó là thật tướng. Nếu quý vị chấp vào đó, khổ sẽ dấy sinh. Trường hợp đúng sai là một ví dụ. Một số người lấy sai làm đúng, lấy đúng làm sai, nhưng rốt cuộc ai thật sự biết cái gì là đúng và cái gì là sai? Chúng ta không biết. Người khác nhau thì có những qui ước khác nhau về cái gì là đúng và cái gì là sai, nhưng Đức Phật lấy sự khổ làm kim chỉ nam. Nếu quý vị muốn tranh luận về đúng sai, sẽ chẳng có kết cục. Người này nói “đúng”, người khác nói “sai”. Người kia nói “sai”, người nọ nói “đúng”. Thật ra, chúng ta hoàn toàn chẳng biết gì về đúng và sai cả! Nhưng ở mức độ hữu dụng, thực tiễn, chúng ta có thể nói đúng là không làm hại cho mình và không làm hại cho người. Cách này tuy đơn giản nhưng thật hữu dụng.

   Như vậy, xét cho cùng, ước lệ, qui tắc và giải thoát tất cả cũng chỉ là pháp, chúng liên quan mật thiết với nhau. Chẳng có cách nào đảm bảo điều gì phải như thế này hay như thế kia, do đó Đức Phật dạy hãy cứ để nó như vậy. Cứ để nó la như vậy, trong sự vô thường của nó. Bất kể yêu thích hay ghét bỏ nó, quý vị cũng hãy hiểu rằng nó vô thường.

   Bất kể thời gian, bất kể nơi chốn, toàn bộ công việc tu tập cũng đều sẽ hoàn thành viên mãn tại nơi không có gì hết. Đó là nơi chốn của sự chấp nhận, của tính không, của sự bỏ xuống gánh nặng. Đây là cái kết thúc. Điều đó không giống với việc, “Tại sao cờ lại phất phới trong gió?”. Người này nói đó là do lá cờ. Người khác nữa cho rằng đó là do gió. Chẳng có kết thúc trong câu chuyện của Lục tổ Huệ Năng khi chưa thấy mọi sự là do tâm động! Điều đó cũng giống như câu đố xưa “Con gà có trước hay quả trứng có trước?”. Chẳng có cách nào đạt được một kết luận khi chưa thấy thực tướng của vạn pháp, đây chính là tự nhiên.

   Tất cả những điều chúng ta nói đây chỉ là những qui ước, chúng ta tự đặt ra chúng. Nếu quí vị hiểu biết những điều này bằng trí huệ, quí vị sẽ hiểu sự vô thường, khổ và vô ngã. Đây là cái nhìn dẫn đến giác ngộ.

   Để giảng giải cho những người có căn cơ hiểu biết khác nhau quả thật rất khó. Một số người có những tư kiến nào đó và họ không tin. Quý vị nói cho họ nghe về chân lý và họ bảo điều đó là không đúng. “Tôi đúng, anh sai...”. chẳng đi tới đâu trong chuyện này cả. Nếu quý vị không buông bỏ, sẽ có khổ. Trước đây, tôi có kể cho quý vị nghe câu chuyện bốn người đi vào rừng. Họ nghe có tiếng một con gà kêu. Một người trong số họ thắc mắc, “Đó là gà trống hay gà mái?”. Ba người kia không đồng ý, anh ta nhất định đó là gà trống. “Gà mái thì làm sao kêu nh vậy được?” anh ta hỏi. Mấy người kia bèn bắt bẻ, “Chà, thì nó là gà rừng, đúng không nào?” Họ ra sức cãi cho đến khi hết sức tức giận vì chuyện này, nhưng rốt cuộc tất cả họ đều sai. Cho dù quý vị nói đó là gà trống hay gà mái đi chăng nữa, chúng cũng chỉ là những cái tên. Chúng ta đặt ra những qui ước này, nói rằng gà trống thì phải như vậy, gà mái thì phải như vậy như vậy; gà trống thì phải kêu như thế này, gà mái thì phải kêu như thế kia...đây là cách chúng ta bị chìm đắm trong cái pháp thế gian! Thật ra, nếu quý vị chỉ cần nói rằng quả thật chẳng cần phải biết gà mái hay gà trống gà hết, khi ấy mọi chuyện sẽ kết thúc. Trong thực tại qui ước, phía bên này là sai và phía bên kia là đúng, nhưng sẽ chẳng bao giờ có sự đồng tình hoàn toàn. Tranh cãi cũng chẳng có lợi ích gì!

   Đức Phật dậy không được chấp. Chúng ta tu tập vô chấp ái như thế nào? Chúng ta đơn giản là từ bỏ luyến chấp, nhưng nhận thức vô luyến vô chấp rất khó hiểu. Phải có trí huệ sắc bén để quan sát và thấu hiểu tận tường, để thật sự đạt được sự luyến vô chấp. khi quý vị suy nghĩ về điều này, hãy nhớ, người ta buồn hay vui, hài lòng hay bất mãn không phải do họ có nhiều hay ít, mà là do nhận thức. Chỉ có thể vượt qua đưuọc mọi khổ đau phiền muộn thông qua nhận thức, thông qua việc nhìn thấy chân tướng của vạn pháp.

   Do đó Đức Phật đã khuyến khích chúng ta hãy quán xét, suy ngẫm. Sự “suy ngẫm” này đơn thuần có nghĩa là hãy cố gắng giải quyết các vấn nạn nhận thức này một cách đúng đắn. Đây là sự tu tập của chúng ta. Giống như sinh, lão, bệnh, tử vậy – chúng ta những biến cố tự nhiên và phổ biến. Đức Phật dạy chúng ta phải quán sát sinh, lão, bệnh, tử, nhưng một số người không hiểu điều này. “Có gì ở đó mà quan sát kia chứ?”, họ nói. Họ được sinh ra, nhưng họ không biết gì về cái sinh, họ sẽ chết nhưng họ lại chẳng biết gì về cái chết.

   Người quán sát những điều này thì sẽ thấy. Một khi đã thấy đã hiểu, sẽ dần dần giải quyết được những chướng ngại của mình. Mặc dù vẫn còn bám chấp, nhưng nếu có trí huệ và hiểu rằng sinh, lão, bệnh, tử đều là cách của thiên nhiên, khi ấy có thể vơi bớt khổ. Chúng ta học Pháp đơn giản chỉ là vì điều này – đoạn diệt khổ. Nền tảng của Phật pháp thật ra chỉ có vậy, chỉ có sinh và diệt của khổ, điều này Đức Phật gọi là đế ( tức chân lý). Sinh là khổ, lão là khổ, bệnh là khổ và tử là khổ. Người ta không chịu xem sự khổ này là chân lý. Nếu chúng ta hiểu được chân lý, khi ấy chúng ta hiểu sự khổ.

   Hãnh diện với cái nhìn mê lầm cá nhân, bám chấp vào đó, những tranh cãi như vậy, đều chẳng đi đến đâu hết, chẳng có kết thúc. Để giúp tâm tĩnh lặng, để tìm thấy sự yên bình, chúng ta phải suy ngẫm quá khứ, hiện tại và những điều còn chất chứa. Như sinh, lão, bệnh, tử chẳng hạn. Chúng ta có thể làm gì để tránh bị phiền lụy vì chúng? Mặc dù vẫn có thể còn chút lo âu, nhưng nếu biết quan sát, suy ngẫm cho đến khi chúng ta hiểu đúng thật tướng của chúng, mọi khổ đau sẽ tan biến, chúng ta sẽ không còn bám chấp vào đó nữa.

 

Từ khóa

thương hiệu nổi tiếng Điều giới trộm cắp Phiền não là gì? phật pháp Minh Đức Triều Tâm Ảnh Kho báu chánh pháp Đại thiện nghiệp của người không sát sinh Nghi thức xin thọ phép quy y tam bảo và thọ trì ngũ giới tu kiểu bắt dế Đức Phật 5 đại thí Kho báu chánh pháp tránh xa sự tà dâm Tránh xa sự nói dối tương ưng bộ kinh phẩm thiên sáu xứ Tránh xa sự tà dâm Pháp ngũ giới thừa tự pháp Giảng giải về điều giới Bát Chánh Đạo Thọ trì ngũ giới Quả khổ của người phạm giới sa di trưởng lão Tránh xa uống rượu bia và các chất say Tránh xa uống rượu Điều giới nói dối chánh pháp vua A-xà-thế Quả báu của đại thiện nghiệp của người không tà dâm Sự tai hại của sự uống rượu bia và các chất say Ngũ giới là thương giới 7 Pháp Giúp Quốc Gia Hưng Thịnh Phật giáo nguyên thủy Ngũ giới là thường giới tránh xa sự sát sinh quản lý nghiệp quy luật vũ trụ phân tích chỉ số tài chính giám đốc tài chính kế toán trưởng Kiểm soát chi phí tài chính kế toán kế toán tài chính phân tích tài chính quản trị tài chính Thiết kế giải pháp giá trị Kho kiến thức quản trị điều hành doanh nghiệp Người giàu có nhất thế gian Người giàu nhất thành Babylon Người giàu nhất thế gian Người Giàu Có Nhất Thành Babylon Người giàu nhất thành babylon
Facebook Instagram Youtube Top