Giỏ hàng

Hương Vị Của Giải Thoát - Khai Pháp Nhãn

 “...Đức Phật giác ngộ thế gian này, bởi ngài đã quan sát thế gian. Nếu không quan sát thế gian, nếu không hiểu rõ thế gian, ngài không thể siêu việt khởi nó. Sự giác ngộ của Đức Phật đơn giản chính là sự giác ngộ về thế gian này với cả hạnh phúc và khổ đau. Nếu không có chúng, thì sẽ lấy cái gì để giác ngộ!...”

HƯƠNG VỊ CỦA GIẢI THOÁT

KHAI PHÁP NHÃN


   “...Đức Phật giác ngộ thế gian này, bởi ngài đã quan sát thế gian. Nếu không quan sát thế gian, nếu không hiểu rõ thế gian, ngài không thể siêu việt khởi nó. Sự giác ngộ của Đức Phật đơn giản chính là sự giác ngộ về thế gian này với cả hạnh phúc và khổ đau. Nếu không có chúng, thì sẽ lấy cái gì để giác ngộ!...”

   Một số người chúng ta tu tập, sau một hay hai năm, vẫn không biết gì. Bởi chúng ta vẫn còn chưa chắc chắn về con đường mình đang đi, chúng ta không nhìn thấy vạn pháp chung quanh mình là thật pháp, do đó chúng ta chỉ biết hướng theo lời dạy của chư tăng. Nhưng, thật ra, khi chúng ta hiểu được cái tâm của mình, khi có được chánh niệm (sati) để nhìn thật tinh tường vào tâm, sẽ có trí huệ. Bất cứ đều nghe thấy Pháp.

   Chúng ta có thể học Pháp từ thiên nhiên, từ cây cỏ. Cây được sinh ra là do nhân, nó phát triển theo dòng chảy của tự nhiên. Ngay tại đây, cội cậy này đang dạy cho chúng ta về Pháp, nhưng chúng ta không hiểu điều này. Theo dòng chảy, cây phát triển cho đến khi sinh hoa và quả. Tất cả chúng ta đều nhìn thấy diện mạo của hoa trái; nhưng chúng ta không thể thực sự quan sát nó. Do đó chúng ta không thể biết rằng cội cây đang dạy Pháp cho chúng ta. Quả xuất hiện và chúng ta chỉ đơn giản là ăn nó mà chẳng hề để tâm tìm hiểu: ngọt, chua hay nặm, đó là thực tướng của quả đó. Và đây là Pháp, lời dạy của quả. Kế đó, lá già đi. Chúng héo và rụng xuống đất. Chúng ta dẫm lên chúng, chúng ta quét chúng, chỉ có vậy thôi. Chúng ta không tìm hiểu thấu đáo, thế nên chúng ta không biết bài học thiên nhiên đang dạy cho chúng ta. Sau đó nữa, lá mới mọc ra, và chúng ta chỉ đơn thuần thấy như vậy, chẳng hề biết gì hơn nữa.

   Nếu có thể mang hết thảy những điều này vào trong tâm để quan sát, chúng ta sẽ thấy rằng sự sinh ra một cội cây và sự sinh ra của chính chúng ta đều giống nhau. Cái thân này của chúng ta được sinh ra và hiện hữu phụ thuộc vào các điều kiện, phụ thuộc vào tứ đại (bốn yếu tó uyên nguyên tạo sinh vạn vật: thổ, thủy, phong và hỏa). Nó có đời sống của nó, và nó phát triển. Mọi bộ phận của cơ thể đều thay đổi theo tự tính của chúng, chẳng khác gì cội cây này, tất cả đều vô thường. Nếu chúng ta hiểu được những điều này của tự nhiên, khi đó chúng ta sẽ biết được chính mình.

   Con người được sinh ra và chết. Bởi chết nên chúng ta được tái sinh. Cơ thể không ngừng chết đi và tái sinh. Nếu chúng ta hiểu được thực tiến này, khi đó chúng ta có thể nhìn thấy một cội cây chẳng khác gì chúng ta. Nếu chúng ta hiểu được lời pháp, khi ấy chúng ta nhận ra cái bên ngoài và cái bên trong là có thể so sánh được. Những điều hữu thức và những điều vô thức chẳng khác biệt nhau. Nếu hiểu được tính chất bình đẳng ( cũng gọi là nhất thể tính) này, khi ấy chúng ta nhìn thấy tự tính của một cội cây chẳng hạn, chúng ta sẽ biết nó chẳng có gì khác với ngũ uẩn-sắ, thụ, tưởng, hành, thức – của chúng ta. Khi hiểu được điều này, chúng ta hiểu được Pháp. Nếu hiểu được Pháp, chúng ta hiểu được thế gian không ngừng dịch chuyển và thay đổi.

   Do đó, bất luận đi, đứng, nằm, ngồi, chúng ta cũng đều phải có chánh niệm để mà quán sát và theo dõi tâm. Khi chúng ta nhìn thấy các sự vật bên ngoài, điều đó giống như nhìn thấy các sự thể hiện bên trong. Khi chúng ta nhìn thấy các sự vật bên trong. Khi chúng ta nhìn thấy các sự thể bên trong, điều đó giống như khi nhìn thấy các sự vật bên ngoài. Nếu hiểu được điều này, khi ấy chúng ta có thể nghe được lời dạy của Phật. Chúng ta có thể nói rằng Phật tính đã được an định. Nó biết cái bên ngoài. Nó biết cái bên trong. Nó hiểu tất cả những điều đang dấy sinh. Khi đã hiểu được như vậy, lúc ấy dù ngồi dưới cội cây chúng ta cũng nghe được lời Phật dạy. Đi, đứng, nằm, ngồi, chúng ta cũng đều nghe thấy lời Phật dạy. Thấy, nghe, ngửi, nếm, chạm và suy nghĩ, chúng ta cũng đều nghe thấy lời giảng của Phật. Phật chính là “Bậc Khả Tri”, ở ngay trong tâm. Tâm biết Pháp, tâm đang quá chiếu Pháp. Không phải Phật tính, “bậc khả tri”, nảy sinh, mà là tâm đang trở nên sáng tỏ.

   Nếu an định được Đức Phật trong tâm, khi ấy chúng ta hiểu rõ vạn pháp. Chúng ta quan sát vạn pháp là không khác gì với chúng ta. Chúng ta nhìn thấy muông thú, cỏ cây, núi non không khác gì với chúng ta. Chúng ta nhìn thấy người nghèo và người giàu- chẳng có gì khác biệt cả! Tất cả đều có những thuộc tính như nhau. Người hiểu được như vậy thì biết bằng lòng, cho dù đang ở bất cứ nơi nào. Bất cứ lúc nào chúng ta cũng lắng nghe theo lời dạy của Phật. Nếu không hiểu điều này, khi ấy mặc dù chúng ta dành cả đời để lắng nghe lời dạy từ các tỳ khưu, chúng ta cũng vẫn không hiểu được ý nghĩa của những lời pháp.

   Đức Phật dạy rằng liễu ngộ Pháp chính là biết toàn thể hiện hữu đang ở xung quanh chúng ta. Thiên nhiên đang hiện hữu! Nếu không hiểu thiên nhiên, chúng ta chỉ thấy sự chán ngán, thất vọng và hoan hỉ, chúng ta bị lạc mất trong những tâm trạng, làm dấy sinh khổ đau và hối tiếc. Bị lạc mất trong tâm cảnh là bị lạc mất thiên nhiên. Khi bị lạc mất thiên nhiên, khi ấy chúng ta không biết Pháp.

   Bởi đã dấy sinh, nên vạn pháp biến đổi và chết đi. Ngay cả những vật mà chúng ta làm ra, cái bát, cái đĩa, tất cả đều có cùng một thuộc tính. Cái bát được nặn thành hình là do có nguyên nhân, động lực sáng tạo của con người, và khi chúng ta sử dụng nó, nó già đi, nứt nẻ và vỡ nát. Cây cỏ, núi non và thiên nhiên đều như vậy, con người và các loài động vật cũng thế.

   Khi A Nhã Kiều Trần Như đại đệ tử đầu tiên của Phật Thích Ca, lần đầu tiên được nghe lời Pháp, nhận chân ra rằng chẳng có cái gì hết, đối với ông vấn đề này quả hết sức phức tạp. Ông đơn thuần chỉ nghĩ rằng cái gì được sinh ra, đều phải biến đổi và già đi, tất cả đều là tình trạng tự nhiên, và sau cùng sẽ chết. Trước đây A Nhã Kiều Trần Như chưa bao giờ nghĩ đến điều này, hoặc nếu có đi chăng nữa, ông cũng vẫn chưa bao giờ suy nghĩ thật thấu suốt, do đó ông vẫn chưa buông bỏ được, ông vân còn bám vúi vào ngũ uẩn. Khi ông ngồi xuống quán tâm lắng nghe lời Phật dạy, Phật tính đã khởi sinh trong ông. Ông đã nhận được một dạng “truyền” Pháp, biết rằng tất cả sự vật do duyên sinh đều vô thường. Bất kỳ cái gì được sinh ra đều phải già và chết đi như là kết quả của tự nhiên.

   Cảm xúc này khác hẳn với bất cứ điều gì khác mà ông từng được biết trước đó. Ông thật sự đã liễu ngộ được tâm của mình, và do đó “Phật” đã khởi sinh trong ông. Vào lúc đó, Đức Phật tuyên bố A Nhã Kiều Trần Như đã nhận được Pháp Nhãn.

   Con Mắt Pháp này nhìn thấy cái gì? Con Mắt này nhìn thấy bất cứ cái gì được sinh ra đều đang già và chết đi như là kết quả của tự nhiên. “Bất kỳ cái gì được sinh ra”  có nghĩa là mọi thứ! Cho dù là vật chất hay phi vật chất, tất cả đều thuộc về thiên nhiên. Giống như cái thân này chẳng hạn – nó được sinh ra và rồi tiến tới tịch diệt. Khi nó còn nhỏ, nó “chết đi”, từ tuổi nhỏ đến tuổi thanh thiếu niên. Sau một thời gian, nó “chết đi”, từ tuổi thanh thiếu niên để trở thành trung niên. Thế rồi nó tiếp tục “chết đi”, từ trung niên đạt đến lão niên, sau cùng thì tận chung. Tất cả cây cỏ, núi non đều có thuộc tính này.

   Như vậy, cái nhìn thấy này, tức sự thấu hiểu, rõ ràng đã đến với tâm của A Nhã Kiều Trần Như khi ông ngồi ở đó. Hiểu biết về “bất kỳ cái gì được sinh ra” ăn sâu vào trong tâm, cho phép ông nhổ bật rễ luyến ái đối với thân. Sự chấp thủ này là ngã chấp. Có nghĩa rằng ông không còn cho rằng thể xác thân là cái ngã hay một hữu thể, hoặc theo phạm trù “anh” hay “tôi”. Ông không còn bám víu vào nó nữa. Ông nhìn thấy nó thật rõ ràng, và như vậy đã bứng rễ.

   Và vicikiccha (nghi, sự ngờ vực) cũng tan biến. Bởi đã đoạn trừ được ngã chấp, nên ông không còn nghi ngờ sự liễu lộ của mình. (giới cấm thủ, tức lòng tin tưởng và các nghi thức và lễ) cũng bị bứng rễ. Sự tu hành của ông trở nên chắc chắn và chân chính. Mặc dù cái thân của ông có bị đau nhức hay phát sốt, ông cũng không chấp vào đó, ông cũng không nghi ngờ, bởi vì ông đã phá chấp. sự luyến ái vào thân xác được gọi là silabbata paramasa. Khi người ta đã đoạn trừ được cái nhìn xem thân xác là cái tôi, nghi luyến ái cũng chấm dứt. Nếu quan điểm chấp lấy xác thân làm cái tôi này dấy sinh trong tâm, nghi và chấp thủ cũng bắt đầu xuất hiện ngay chỗ đấy.

   Do đó, khi Phật chuyển pháp luân, A Nhã Kiều Trần Như đã mở được Con Mắt Pháp. Con Mắt này chính là “Hiểu Biết Rõ Ràng”. Nó nhìn sự vật một cách khác hẳn. Nó nhìn thấy chính tự tính. Bởi nhìn thấy thiên nhiên thật rõ ràng, nên chấp thủ được đoạn diệt và “Bậc Khả Tri” được sinh ra. Trước đó ông có biết, nhưng vẫn còn bám giữ. Quý vị có thể nói rằng ông biết Pháp những vẫn chưa thấy nó, hoặc ông đã thấy Pháp những vẫn chưa trở thành một với nó.

   Lần này, Đức Phật nói “ A Nhã Kiều Trần Như biết”. Nhưng ông biết gì? Chính là biết thiên nhiên! Thường thường, chúng ta bị lạc lối trong thiên nhiên, về xác thân này của chúng ta cũng vậy. Đất, nước, lửa và gió hợp lại với nhau để tạo nên xác thân này. Đó là một khía cạnh của tự nhiên, là một vật hữu hình mà chúng ta có thể thấy bằng mắt. Nó hiện hữu phụ thuộc vào các điều kiện, lớn lên và thay đổi cho đến khi tịch diệt.

   Khi hướng vào bên trong, quan sát thân chính là thức – là “ Bậc Khả Tri” này, sự biết duy nhất này. Nếu nó nhận được thông qua tai, điều đó được gọi là nghe; thông qua mũi, được gọi là ngửi; thông qua lưỡi đó là nếm; thông qua thân đó là tiếp xúc; và thông qua tâm, đó là suy nghĩ. Thức chỉ có một nhưng khi hành tác tại những nơi khác nhau, chúng ta thấy những sự vật khác nhau. Thông qua mắt chúng ta gọi nó là cái khác. Nhưng cho dù nó hành tác tại mắt, tai,mũi,lưỡi hay thân, nó cũng chỉ là một thức mà thôi. Chúng ta gọi nó là lục thức (sáu cái biết của sáu cơ quan giác quan), nhưng trong thực tế chỉ có một thức duy nhất dấy sinh tại sáu lục căn khác nhau. Có sáu “cửa” nhưng thuộc một thức duy nhất, chính là tâm.

   Tâm có khả năng biết được chân tướng của thiên nhiên. Nếu tâm còn bị chướng ngại, khi đó chúng ta nói nó biết rằng sự vô minh (sự ngu muội, mê lầm). Nó biết một sai lầm và nó thấy một cách sai lầm. Biết sai lầm và thấy sai lầm, hoặc biết đúng và thấy đúng cũng chỉ là một thức duy nhất. Chúng ta nói tà kiến và chính kiến, nhưng đó cũng chỉ là một. Đúng và sai đều dấy sinh từ một chỗ. Khi có sự biết sai, chúng ta nói vô minh đang che mờ chân lý. Kh có sự biết sai, khi ấy có tà kiến (quan điểm sai lầm), tà định (chủ ý sai lầm), tà hành (hành động sai lầm), tà sinh (cách sống sai lầm) – mọi chuyện đều là sai lầm! Và mặt khác, con đường chính hạnh cũng được sinh ra ngay tại chỗ này. Khi có cái đúng, cái sai sẽ biến mất.

   Đức Phật đã tu hành trải qua nhiều gian khổ và ứng xử khổ hạnh với cả chính bản thân mình, nhưng ngài quán chiếu vào tận sâu trong tâm cho đến khi cuối cùng phá bỏ được vô minh. Chư Phật đã giác ngộ bằng tâm, bởi vì cái thân chẳng biết gì hết. Chư Phật đều tu tập bằng tâm, đạt được viên mãn bằng tâm.

   Đức Phật, khi quan sát tâm mình, đã từ bỏ hai thái độ cực đoan trong tu hành- ái lạc và ái khổ - và trong cuộc chuyển pháp luân (tức giảng đạo) lần thứ nhất, ngài đã thuyết về Trung đạo, con đường ở giữa hai cực đoan. Nhưng chúng ta nghe lời pháp của ngài và điều đó chạm đến lòng ham muốn của chúng ta. Chúng ta mê đắm với khoái lạc và tiện nghi, mê đắm với hạnh phúc, trong sự nghĩ rằng chúng ta tốt đẹp, chúng ta mỹ mãn – đây chính là sự ái lạc, bất mãn, khổ đau, ghét và giận – đây là sự ái khổ. Những điều này là những con đường cực đoan mà người tu tập phải tránh.

   Những “con đường” này đơn thuần chỉ là hạnh phúc và khổ đau dấy sinh. “Người đi trên con đường tu tập” chính là tìm về tâm. Nếu trạng thái tốt đẹp dấy sinh, chúng ta bám chấp vào nó là tốt, đây là sự ái lạc. Nếu trạng thái khổ đau dấy sinh, chúng ta bám chấp nó thông qua sự ghét – đây là sự ái khổ. Đây đều là những con đường sai lầm, chúng không phải là con đường của người tu tập, mà là những con đường của thế gian nơi chỉ muốn có vui vẻ và hạnh phúc, chỉ muốn lẩn tránh sầu muộn và khổ đau.

   Người trí thì biết đó là những con đường sai lầm, họ từ bỏ chúng, họ không mê đắm vào chúng. Họ không bị động tâm bởi lạc và khổ, hạnh phúc và không hạnh phúc. Những điều này dấy sinh, nhưng người biết thì không chấp thủ vào chúng, họ cho phép chúng diễn ra theo tự tính của chúng. Đây là chánh kiến (cái nhìn đúng đắn, quan điểm chân chính). Khi chúng ta hiểu thấu sẽ thấy hạnh phúc và khổ đau chẳng có ý nghĩa gì hết đối với bậc giác giả (người đã chứng ngộ).

   Đức Phật dạy rằng các bậc giả đã xa lìa khỏi cấu trần (những nhiễm trược). Điều này không có nghĩa là họ đã chạy xa khỏi các phiền não, uế trược. Họ chẳng chạy tránh đi đâu cả. Nhiễm trược đã ở đó. Phật đã so sánh nó với lá sen trong hồ nước. Sen và nước cùng hiện hữu với nhau, tiếp xúc nhau, nhưng sen không bị ướt vì nước. Nước giống như những nhiễm trược, và sen là tâm giác ngộ.

   Tâm của người tu hành cũng giống như vậy; nó không chạy trốn đến bất cứ nơi nào cả, nó vẫn đang ở ngay đó. Thiện, ác, hạnh phúc, khổ đau, chính, tà...dấy sinh, và thiền giả biết tất cả chúng. Thiền giả chỉ đơn giản biết chúng, nhưng chúng không bước được vào tâm của anh ta. Tức là, anh ta không bám víu lấy chúng. Anh ta chỉ đơn giản là “người trải nghiệm”. Nói rằng anh ta đơn thuần chỉ có trải nghiệm là nói theo ngôn ngữ thông thường của chúng ta. Theo ngôn ngữ của Pháp, chúng ta nói anh ta cho phép tâm của mình đi theo Trung Đạo.

   Những hoạt động này, không ngừng dấy sinh, bởi chúng là những đặc trưng của thế gian. Đức Phật giác ngộ trong thế gian này, bởi ngài đã quan sát thế gian. Nếu không quan sát thế gian, nếu không hiểu rõ thế gian, ngài không thề siêu việt khỏi nó. Sự giác ngộ của  Đức Phật đơn giản chính là sự giác ngộ về cái thế gian này với cả hạnh phúc và khổ đau. Nếu không chúng thì sẽ lấy cái gì để gíac ngộ! Những gì ngài biết chính là cái thế gian này, cái đang bao quanh chúng ta. Nếu chúng ta chỉ biết chạy theo những thứ này, tìm kiếm lời khen và tiếng tốt, lợi lộc và hạnh phúc, và cố gắng tránh né những điều đối nghịch chúng ta sẽ bị chìm dưới sức nặng của thế gian.

   Được và mất, khen và chê, danh thơm và tiếng xấu, hạnh phúc và khổ đau – đó là thế gian. Người bị trầm luân trong thế gian thì chẳng có lối nào để thoát ra cả, thế gian sẽ nhấn chìm anh ta. Thế gian này tuân theo qui luật của vạn pháp, do đó chúng ta gọi nó là thế pháp (phap thế gian). Người sống trong pháp thế gian là thế nhân, sống trong pháp thế gian là thế nhân, sống trong sự bao vây của rối loạn và mê lầm.

   Do đó Đức Phật đã dạy chúng ta đi theo con đường của Giới, Định và Tuệ - phát triển chúng cho đến viên mãn! Đây là con đường diệt trừ những rối loạn và  mê lầm của thế gian. Chúng ở đâu? Đơn giản là chúng đang ở trong tâm của những ai bị mê đắm bởi chúng! Hành động luyến ái lời khen, tiền tài, danh vọng, hạnh phúc và khổ đau là “thế gian”. Khi chúng có ở đó, trong tâm, khi ấy cạm bẫy thế gian dấy sinh, con người thế gian được tạo thành. Cạm bẫy thế gian được sinh ra là do ham muốn. Ham muốn là cái nôi sinh ta hết thảy các cạm bẫy thế gian. Dập tắt ham muốn chính là hủy diệt cạm bẫy thế gian.

   Sự tu tập Giới, Định và Tuệ của chúng ta còn được gọi là Bát Chính Đạo. Bát Chính Đạo này và tám thế gian pháp lại trở thành một cặp. Làm thế nào chúng lại trở thành một cặp? Nếu nói theo kinh sách, chúng ta nói rằng được và mất, khen và chê, danh thơm và tiếng xấu, hạnh phúc và khổ đau là tám thế gian pháp. Chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tiến, chính niệm và chính định là Bát Chính Đạo. Hai “con đường có tám điều” này đều hiện hữu cùng một chỗ. Tám thế gian pháp đều đang ở ngay đây, trong chính tâm này, cái tâm có “Bậc Khả Tri”, nhưng “Bậc Khả Tri” này đang có những phiền não, dẫn đến hiểu biết sai lầm, và vì vậy trở thành pháp thế gian.

   Khi chúng ta tu tập Phật đạo, khi chúng ta huấn luyện thân và khẩu của mình, tất cả đều được thực hiện trong chính cái tâm đó. Nếu tu tập bằng cái tâm này, chúng ta sẽ đối diện với lòng luyến ái lời khen, tiếng thơm, vui vẻ và hạnh phúc, chúng ta nhìn thấy thái độ chấp thủ thế gian.

   Đức Phật dạy, “Phải hiểu thế gian. Nó rực rỡ như cỗ xe lửa của nhà vua. Kẻ ngu si thì mê mẩn vì nó, người trí thì không bị đánh lừa vì nó”. Không phải ngài muốn chúng ta đi khắp thế giới để quan sát hết mọi thứ, nghiên cứu mọi điều. Ngài chỉ đơn thuần muốn chúng ta quan sát cái tâm này, cái tâm đang bị chấp thủ. Khi Đức Phật dạy chúng ta hãy nhìn thế gian, ngài không muốn chúng ta bị dính mắc vào nó, bởi vì thế gian được sinh ra trong chính tâm này. Ngồi trong bóng mát của một tàng cây, quý vị cũng có thể nhìn thế gian. Khi có ham muốn, cạm bẫy thế gian hiện hình ra ngay tại đấy. Ham muốn là cái nôi của cạm bẫy thế gian. Dập tắt ham muốn chính là hủy diệt cạm bẫy thế gian.

   Khi chúng ta ngồi thiền, chúng ta muốn tâm trở nên bình yên, nhưng không bình yên. Tại sao vậy? Chúng ta không muốn suy nghĩ nhưng chúng ta cứ suy nghĩ. Điều đó giống như một người ngồi xuống nhầm một tổ kiến: bầy kiến không ngừng cắn anh ta. Khi tâm là thế gian, khi ấy ngay cả việc ngồi yên với đôi mắt nhắm, tất cả những gì chúng ta thấy cũng đều là thế gian. Hỉ lạc, bi ai, ưu tư, rối loạn – đều dấy sinh. Tại sao vậy? Đó là bởi vì chúng ta vẫn chưa thấu hiểu được Pháp. Nếu tâm như vậy, thiền giả không thể dung nhận được thế gian pháp, anh ta không quan sát được. Điều đó giống y như việc anh ta ngồi nhầm phải tổ kiến. Bầy kiến sẽ không ngừng cắn, bởi vì anh ta ngồi ngay lên tổ của chúng! Vậy, anh ta phải làm gì?

   Nhưng phần lớn những người tu tập lại không nhìn thấy như vậy. Nếu họ cảm thấy hài lòng, họ chỉ đi theo sự hài lòng, khi cảm thấy không hài lòng, họ chỉ chạy theo nó. Khi chạy theo các pháp thế gian, tâm trở thành pháp thế gian. Đôi khi chúng ta có thể nghĩ, “Ồ, tôi không thể làm được, điều đó vượt quá sức của tôi...”, do đó thậm chí chúng ta không thèm cố gắng nữa! Đấy là bởi vì tâm đang đầy ắp những phiền trược,các pháp thế gian đang ngăn không cho Đạo khởi sinh. Chúng ta không thể tinh cần trong việc phát triển Giới, Định và Tuệ được. Điều đó giống như người ngồi trên tổ kiến. Anh ta không thể làm bất cứ điều gì khác, bầy kiến đang cắn và bò khắp người anh ta, anh ta bị chìm trong rối loạn và giận dữ. Anh ta không thể thoát khỏi cái chỗ nguy hiểm đó, do đó anh ta đành ngồi chịu trận ở đó và đau khổ.

   Việc tu hành của chúng ta cũng vậy. Thế gian pháp hiện hữu trong tâm chúng sinh. Khi chúng sinh ước muốn sự an tĩnh, các pháp thế gian liền dấy sinh ngay tại đấy. Khi tâm vô minh, sẽ chỉ có bóng tối. Khi trí tuệ khởi sinh, tâm được khai sáng, bởi vì vô minh và trí huệ được sinh ra cùng một chỗ. Khi vô minh dấy sinh, trí huệ không thể bước vào được, bởi vì tâm đã chấp nhận vô minh. Khi trí huệ khởi sinh, vô minh không thể tồn tại được.

   Do đó Đức Phật khuyến khích các đệ tử của ngài hãy tu hành bằng tâm, bởi thế gian được sinh ra trong cái tâm này, tám thế gian pháp đang ở đó. Bát chính đạo, tức là, sự quan sát thông qua tĩnh lự và thiền minh sát, sự nỗ lực chuyên cần và trí tuệ mà chúng ta đang phát triển, tất cả những điều này giúp chúng ta thoát khỏi sự kiềm chế của cạm bẫy thế gian. Chấp thủ, sân khuể và ảo tưởng trở nên nhẹ hơn, và khi chúng nhẹ hơn, chúng ta biết rõ chúng như chúng đang là. Nếu có trải nghiệm danh vọng, tiền tài, lời khen, hạnh phúc hay khổ đau, chúng ta đều biết. Chúng ta phải biết những điều này trước khi có thể siêu việt thế gian, bởi vì thế gian đang ở bên trong chúng ta.

   Khi chúng ta thoát khỏi những điều này, việc đó cũng giống như ra khỏi một ngôi nhà. Khi bước vào một ngôi nhà, chúng ta cảm nhận loại cảm xúc nào? Chúng ta cảm thấy mình đang bước qua cửa và đi vào ngôi nhà. Khi ra khỏi ngôi nhà đó, chúng ta đang đi vào ánh nắng rực rỡ, nó không còn tối đen như khi ở trong nhà. Hành động bước vào thế gian pháp cũng giống như việc đi vào ngôi nhà. Tâm đã đọa diệt các pháp thế gian cũng giống như người rời khỏi ngôi nhà.

   Do đó hành giả tu theo Pháp phải trở thành người tự chứng sở chứng (tự chứng Pháp cho chính mình). Chúng ta tự biết mình đã rời khỏi thế gian hay chưa, Đạo đã được phát triển hay chưa. Khi Đạo đã được phát triển mỹ mãn, nó giải trừ các pháp thế gian. Nó trở nên mạnh mẽ hơn. Chính kiến phát triển khi tà kiến suy tàn, cho đến khi cuối cùng Đạo đoàn trừ hết các phiền não- nếu không phiền não sẽ diệt trừ Đạo!

   Chính kiến và tà kiến, chỉ có hai con đường này. Tà kiến có những mánh lới riêng của nó, nó có trí khôn của nó – nhưng đó là trí khôn bị lạc đường. Hành giả bắt đầu tầm Đạo sẽ trải nghiệm một sự phân chia. Điều đó giống như thể chúng ta là hai con người- một người trong thế gian và một người đang đi theo Đạo. Hai con người đó phân chia và tách rời nhau. Bất cứ khi nào chúng ta quán sát đều có sự phân chia này, và điều đó cứ tiếp diễn cho đến khi tâm đạt đến vipassana (tuệ hay minh sát tuệ, cái nhìn chứng nghiệm được chân lý nhờ sự minh sát khi thiền).

   Hoặc đó có thể là vipassanu (tập nhiễm trí, trí khôn bị nhiễm trược)! Bởi đã cố gắng tinh cần để thiết lập thiện quả khi tu tập, nên khi thấy được nó, chúng ta chấp vào đó. Loại bám víu này xuất pháp từ lòng mong muốn đạt được cái gì đó từ việc tu tập, được gọi là vipassanu. Một số người phát triển lòng khoan dung và rồi chấp nhận vào đó, họ phát triển sự thanh tịnh và cũng chấp vào đó. Hành động chấp thủ vào thiện hạnh hay tri kiến là vipassanu, luôn xâm nhập vào công cuộc tu tập của chúng ta.

   Do đó, khi chúng ta phát triển vipassana hãy cẩn thận! hãy coi chừng vipassanu, bởi vì chúng rất giống nhau đến độ đôi khi chúng ta không thể phân biệt cái nào với cái nào. Nhưng bằng chính kiến, chúng ta có thể nhìn thấy cả hai một cách rõ ràng. Nếu đó là vipassanu, sẽ có khổ dấy sinh. Nếu đó thật sự là vipassana, chẳng có sự khổ. Chỉ có sự an tịnh. Cả hỉ lạc lẫn khổ đau đều vắng bóng.

   Việc tu tập đòi hỏi sự bao dung, chấp nhận. Một số người, khi tu tập, không muốn bị quấy rầy bởi bất cứ điều gì, họ không muốn có sự phiền trược. Nhưng ở đâu cũng có phiền trược giống như trước. Chúng ta phải cố gắng tìm cách tiêu trừ phiền trược thông qua chính phiền trược! Do đó, nếu có phiền trược trong việc tu hành của quý vị , thì việc đó là đúng. Nếu không có phiền trược, vậy là không đúng, quý vị chỉ là ăn và ngủ thật nhiều tùy theo ý thích. Khi muốn đến bất cứ nơi đâu hay nói bất cứ lời gì, quý vị chỉ là chạy theo các ước muốn của mình. Lời dạy của Phật thật chói tai. Cái thoát tục trái ngược với phàm tục. Chính kiến mâu thuẫn với tà kiến, thanh tịnh đối lập với nhiễm trược. Lời pháp thật trái ngược với các ước muốn thông thường của chúng ta.

   Có một chuyện được ghi trong kinh sách liên quan đến Đức Phật trước khi đắc đạo. Lần đó, sau khi nhận một bát cơm dâng cúng, ngài đã thả cái bát xuống dòng sông, đồng thời thệ nguyện trong lòng, “Nếu mà ta thật đã giác ngộ, xin cho cái bát này trôi ngược dòng”. Cái bát ấy đã trôi ngược dòng! Cái bát ấy chính là chính kiến của Đức Phật,hoặc đó là Phật tính mà ngài đã liễu ngộ. Nó không trôi theo những ước muốn của thế gian. Nó trôi ngược lại với dòng chảy, nó mâu thuẫn đủ mọi chiều với pháp thế gian nhưng vẫn ở trong thế gian.

   Ngày nay cũng vậy, Phật pháp trái ngược hẳn với những ước muốn thông thường của chúng ta. Chúng ta đắm mình trong tham lam và sân hận, nhưng Đức Phật sẽ không khuyến khích chúng ta sống như vậy. Chúng ta muốn được ru ngủ, nhưng Đức Phật đã diệt trừ ảo tưởng, mê mộng. Do đó lời dạy của Đức Phật ngược hẳn với tâm cảnh thế gian. Chúng sinh thấy cái thân này là đẹp, ngài dạy rằng nó không đẹp. Họ bảo cái thân này là của chúng ta, ngài dạy rằng nó không phải của chúng ta. Họ bảo rằng cái thân này có thật, ngài dạy rằng cái thân này là huyền tướng. Chính kiến vượt lên trên cái thấy thông thường của thế gian. Chúng sinh chỉ cần biết trôi theo dòng nước.

   Còn nữa, khi Đức Phật đứng lên rời khỏi nơi ngài tọa thiền, ngài nhận được tám bó cỏ của một người bà la môn dâng cúng. Ý nghĩa thật sự của điều này là: tám bó cỏ đó chính là tám thế gian pháp – được và mất, khen và chê, danh thơm và tiếng xấu, hạnh phúc và khổ đau. Đức Phật, sau khi nhận tám bó cỏ,quyết định dùng nó để ngồi và nhập định. Hành động ngồi lên các bó cỏ tự nó đã là samadhi, tức là, tâm của ngài đã vượt lên trên các pháp thế gian, đồng thời chinh phục chúng cho đến khi chứng ngộ siêu thế gian pháp. Các pháp thế gian trở nên hoàn toàn mấy ý nghĩa. Chúng chẳng còn gây chút chướng ngại nào nữa. Các đạo quân của Ma vương đã cố gắng để làm động tâm của ngài, nhưng ngài vẫn ngồi đó, nhập định, cho đến khi cuối cùng chứng ngộ được Pháp và đánh bại hoàn toàn Ma vương. Tức là, việc tu tập đã phát triển Đạo chính là việc tu tập để diệt trừ phiền não.

   Tu tập được một hai năm thì chúng ta đã muốn đạt đến cảnh giới đó, và muốn đi nhanh. Chúng ta không nghĩ rằng Đức Phật, vị Tôn Sư của chúng ta, đã ly gia cầu đạo tròn sáu năm ròng trước khi thành Phật. Đây là lý do tại sao chúng ta phải có “tự do trong lệ thuộc” (ý nói rằng người đó phải sống dưới sự dìu dắt của một vị cao tăng trong năm năm đầu). Theo kinh sách, một tỳ khưu phải có ít nhất năm “mùa mưa” (năm kỳ an cư kiết hạ) trước khi được xem là có thể sống độc lập không cần thầy. Bởi đến lúc đó, tỳ khưu này đã học tập đầy đủ, đã có tri kiến thỏa đáng, đã có lòng tin và thiện hạnh. Với người đã tu được năm năm, có thể nói người đó có đủ phẩm chất. Nhưng người đó phải thật sự tu, phải thật sự chăm lo đạo tâm, phải thật sự có hạnh tu!

   Trong lúc chưa đạt đủ năm mùa mưa, quý vị có thể thắc mắc, “Cái ‘tự do trong lệ thuộc’ này mà Đức Phật đã nói đến là gì” quý vị phải thật nỗ lực tinh thần cần tu hành trong năm năm, và rồi tự thân quý vị sẽ biết những phẩm chất mà Đức Phật muốn nói đến. Sau thời gian đó, quý vị sẽ trở thành người thiện xảo trong tâm. Ít ra là, sau năm mùa an cư kiết hạ, người đó sẽ đạt được quả  vị thứ nhất của tu chứng. Đây không chỉ là năm mùa mưa ở thân, mà còn là năm mùa mưa trong tâm nữa. Tỳ khưu đó không dám làm điều gì sai cho dù trước mặt mọi người hay sau lưng họ, trong ánh sáng hay trong bóng tối. Tại sao không? Bởi vì người đó đã đạt đến Phật tính. Người đó đã an trụ trong Phật, Pháp và Tăng.

   Để quy y thật sự vào Phật, Pháp và Tăng, chúng ta phải nhìn thấy Phật. Nếu chúng ta chưa biết Phật, Pháp và Tăng, thì sự quy y của chúng ta chỉ là một hành động của thân và khẩu, chứ tâm vẫn chưa gặp được Tam Bảo. Một khi tâm đã được Tam Bảo, chúng ta biết Phật, Pháp và Tăng là như thế nào. Khi ấy, chúng ta có thể thật sự an trú vào Tam Bảo, bởi vì Tam Bảo khởi sinh ngay trong tâm của chúng ta. Bất kể chúng ta đang ở đâu, chúng ta cũng sẽ có Phật, Pháp và Tăng trong lòng.

   Người như vậy thì đâu còn dám phạm phải những ác hạnh? Đây là lý do tại sao chúng ta nói người đã đạt được quả vị thứ nhất của chứng ngộ sẽ không còn bị đọa sinh vào các cảnh giới sân hận. Tâm của anh ta chắc chắn, anh ta đã bước vào Dòng Chảy (nhập lưu), đối với anh ta chẳng còn gì phải nghi ngờ nữa cả. Nếu chưa đạt được đến sự viên giác ở ngày hôm nay, anh ta chắc chắn sẽ đạt được điều đó trong tương lai. Anh ta có thể làm sai, nhưng điều đó không đủ để khiến anh ta phải bị đe dọa xuống Địa Ngục, tức là, anh ta không bị quay trở lại với các ác hạnh của thân và khẩu nữa, anh ta miễn nhiễm với nó. Anh ta bất thoái chuyển (không bị quay trở lại nữa).

   Ngày nay, nhiều người vẫn còn nghi ngờ về pháp môn khi nghe thấy những lời này, “Ồ, làm thế nào tôi có thể làm được điều đó?” đôi khi chúng ta cảm thấy hạnh phúc, đôi lúc bối rối, vui hoặc buồn. Vì lẽ gì? Bởi chúng ta không hiểu Pháp. Pháp là gì? Chính là thực tướng của sự tự nhiên, sự sống chung quanh chúng ta, thân và tâm.

   Đức Phật dạy rằng, “Đừng luyến ái ngũ uẩn, hãy buông xả chúng, hãy từ bỏ chúng!” Tại sao chúng ta không thể buông bỏ chúng được? Chỉ vì chúng ta không thấy chúng hay không hiểu được chúng một cách thấu đáo. Chúng ta thấy chúng là chính mình, chúng ta thấy chính mình trong ngũ uẩn. Hạnh phúc và khổ đau, chúng ta xem đó là mình, chúng ta nhìn thấy mình trong hạnh phúc và khổ đau. Chúng ta không thể phân biệt chúng ta và ngũ uẩn. Khi không thể tách bạch được, điều đó có nghĩa rằng chúng ta không thể nhìn thấy Pháp, chúng ta không thể nhìn thấy thiên nhiên.

   Hạnh phúc, khổ đau, vui và buồn – chẳng có cái nào là chúng ta cả, nhưng chúng ta lại chấp đó là mình. Những điều đó trú ngụ trong chúng ta, và chúng ta nhìn thấy cả một khối “atta”, tức là cái tôi. Bất cứ nơi nào có mặt tự ngã, quý vị sẽ thấy có hạnh phúc, khổ đau và mọi thứ khác nữa. Do đó Đức Phật dạy phải diệt trừ “khối” tự ngã này, tức là diệt trừ sakkayaditthi (hữu thân kiến). Khi atta (ngã) đã diệt trừ, anatta (vô ngã) tự nhiên sẽ khởi sinh.

   Chúng ta chấp thiên nhiên là tự ngã, và tự ngã là thiên nhiên, chúng ta không thật sự hiểu thiên nhiên. Nhưng thiên nhiên đơn thuần chỉ là những pháp hữu vi. Như chúng ta đã tụng đọc, Tesam vupasamo sankharas sukho – an định được các pháp hữu vi là chân phúc. Làm cách nào chúng ta an định được chúng? Đơn giản là chúng ta hãy dứt bỏ luyến ái và nhìn thấy chúng đúng như chúng thật sự đang là (tức là nhìn thấy đúng thật tướng của chúng).

   Như vậy có chân lý trong thế gian này. Cây cỏ, núi non, tất cả đều sống theo chân tính của chúng, chúng được sinh ra và chết đi theo tự tính. Chỉ có chúng ta mới là những người không thấy mà thôi! Thiên nhiên luôn bình thản, nó chỉ đang là như nó đang là. Cho dù chúng ta có buồn hay vui đến mức nào, xác thân này cũng vẫn đi theo tự tính của nó. Nó được sinh ra, lớn lên, biến đổi và già đi trong từng sát na. Nó tuân theo tự nhiên đúng như vậy. Bất kỳ ai chấp cái thân này là tự ngã và ôm giữ lấy nó cũng đều sẽ khổ.

   Ông A Nhã Kiều Trần Như đã liễu ngộ “bất kỳ cái gì được sinh ra” này trong mọi sự vật, bất luận nó là hữu hình hay vô hình. Cái nhìn về thế gian của ông đã thay đổi. Ông đã nhìn thấy chân lý. Khi đứng lên khỏi chỗ ngồi ông đã đón nhận được chân lý. Hoạt động sinh và tử vẫn tiếp diễn, nhưng ông chỉ đơn giản là nhìn vào đó. Hạnh phúc và khổ đau dấy sinh và biến mất, nhưng ông chỉ đơn giản là thấy chúng. Tâm ông không xao động. Ông không còn bị lạc vào những trạng thái khổ đau nữa.

   A Nhã Kiều Trần Như đã thu được Pháp Nhãn. Ông đã nhìn thấy thiên nhiên, điều chúng ta gọi là các pháp hữu vi, theo đúng thật tướng. Trí huệ thấy được chân tướng của các pháp hữu vi. Đây là cái tâm biết và thấy Pháp, cái tâm đã nhập lưu (chảy theo dòng).

   Cho đến khi thấy được Pháp, chúng ta phải nhẫn nại và trì giới. Chúng ta phải giữ lấy chữ nhẫn, phải cắt lìa luyến ái! Chúng ta phải vun bồi sự chuyên cần và trì chí. Tại sao chúng ta phải vun bồi sự tinh cần? bởi vì chúng ta có thói quen lười biếng! Chỉ vậy thôi. Nhưng khi chúng ta đã tiêu trừ cái tâm giải đãi rồi, khi ấy chúng ta không cần phải luyện tập sự chuyên cần nữa. Nếu đã biết chân tướng mọi trạng thái của tâm, không còn bị vui buồn vì chúng, chúng ta không cần phải luyện tập hạnh nhẫn nữa, bởi vì tâm đã là Pháp. “Bậc Khả Tri” đã thấy Pháp, người đó chính là Pháp.

   Khi tâm là Pháp, nó tĩnh lặng. Nó đạt được sự bình yên. Chẳng còn cần phải làm cái gì đó đặc biệt, bởi vì tâm đã là Pháp. Cái bên ngoài là Pháp, cái bên trong là Pháp. Trạng thái là Pháp và biết trạng thái đó là Pháp. Tất cả là một, là tự do.

   Pháp bất sinh, nên không lão, không bệnh Pháp không lạc không khổ, không lớn không nhỏ, không nặng không nhẹ; cũng không ngắn không dài, không đen không trắng. Chẳng có cái gì quý vị có thể dùng đê so sánh được. Chẳng có ước lệ nào có thể chạm được đến Pháp. Đây là lý do tại sao chúng ta nói Nibbâna  (Niết Bàn) là vô sắc. Toàn bộ màu sắc cũng chỉ là những qui ước. Trạng thái vượt lên trên thế gian nằm ngoài tầm với của các qui ước thế gian.

   Do đó, Pháp là cái vượt lên trên thế gian. Nó là cái mà mỗi người phải tự thân nhìn thấy. Nó nằm ngoài ngôn ngữ. Quý vị không thể nói nó ra thành lời được, quý vị chỉ có thể nói về những phương cách và phương tiện để liễu ngộ nó. Người tự thân thấy được nó là người đã đạt được trí huệ viên mãn.

Danh mục tin tức

Facebook Instagram Youtube Top