} catch (e) {}; //]]>
Giỏ hàng

Giảng giải KINH THỪA TỰ PHÁP

KINH THỪA TỰ PHÁP

“Này các tỳ khưu, hãy là người thừa tự Pháp của Ta, đừng là những người thừa tự tài vật. Ta có lòng thương tưởng các Ngươi và Ta nghĩ: “ Làm sao những đệ tự của Ta là những người thừa tự Pháp của Ta, không phải là những người thừa tự tài vật?”

Người ta thường tỏ ra rất sốt sắng khi được thừa hưởng những tài sản vật chất mà cha mẹ đã chết để lại. Không ai muốn hi sinh quyền lợi cho anh chị em của mình. Thực sự, mọi người bị ngọn lửa tham thiêu đốt đến nỗi cái chết của một người luôn luôn có nghĩa là sự chấm dứt mối quan hệ gia đình và bắt đầu những tranh chấp và thù hận giữa đám con cháu với nhau. Đây là những vấn đề được nhận thấy chung giữa người tại gia và cũng có thể nói như vậy đối với người xuất gia quá quan tâm đến thừa hưởng vật chất. Cái chết của một vị trưởng lão nổi tiếng luôn luôn được theo sau bởi những cuộc tranh chấp giữa những đệ tử vốn tuyên bố những tài sản mà ngài để lại được phân chia trên căn bản di chúc của ngài hoặc trên sự thân cận hoặc quyền hợp pháp của tông môn bộ phái của ngài.

Tất nhiên từ quan điểm của Luật Tạng những lời tuyên bố có thể là hợp pháp hoặc không hợp pháp. Dưới thời thuộc địa của Anh có rất nhiều cuộc tranh cãi về quyền thừa kế tu viện và một số người phật tử tại gia đã phải tiêu tốn rất nhiều tiền cho những vụ kiện tụng này đến nỗi cuối cùng họ phải lầm vào cảnh nghèo khó. Những cuộc chiến pháp lý này vẫn còn đang tranh đấu trong thời buổi hiện nay.

Nhiều vị sư quá bận tâm tới việc theo đuổi vật thực, y áo, chùa chiền, tiền bạc, danh vọng… Một số cố gắng tìm kiếm những tài sản vật chất bằng mọi phương tiện có thể được cho dù vi phạm vào giới luật. Việc theo đuổi những tài sản vật chất điên rồ như vậy nói lên sự suy tàn trong việc thực hành pháp và vì thế nó đi ngược lại với lời dạy của Đức Phật.

Pháp ( Dhamma) mà người đệ tự Phật nên tầm cầu có hai loại, đó là tối hậu pháp và phương tiện pháp, và Đức Phật thúc giục các đệ tử của ngài hãy coi trọng cả hai. Theo chú giải, tối hậu Pháp bao gồm 4 loại Đạo: Nhập lưu Đạo, Nhất lai đạo, bất lai đạo, A la hán đạo. Bốn loại quả tương ứng của bốn đạo và niết bàn. Đây là 9 pháp siêu thế mà người ta chỉ có thể chứng đắc y cứ trên căn bản giáo pháp của Đức Phật. Ở đây, sự chứng đắc 4 đạo cũng có nghĩa là  chứng đắc bốn quả và Niết Bàn, nghĩa là một người chứng đạo thứ nhất cũng chứng quả thử nhất và lúc đó học đã trên ngưỡng của Niết Bàn. Vị hành giả ở giai đoạn này hoàn toàn được giải thoát khỏi những phiền não đưa đến bốn cõi khổ. Vị ấy sẽ được tái sinh trong nhân giới hoặc thiên giới và không phải đối diện với bệnh, tử và các thống khổ khác trong hơn 7 kiếp tái sinh. Vì thế Đức Phật thường thúc giục các đệ tử của ngài hãy nỗ lực để chứng đắc chí ít cũng cấp độ thấp nhất của di sản giáo pháp này.

            Khi vị hành giả đắc đạo quả nhất lai, vị ấy chỉ phải chịu tái sinh trong nhân giới và thiên giới không hơn 2 kiếp. Và khi ấy vị ấy chứng đắc đạo quả bất lai, vị ấy chắc chắn được giải thoát hoàn toàn khỏi mọi loại khổ cố hữu trong các cõi nhân thiên. Sauk hi chết vị  ấy sẽ tái sinh vào cõi Phạm thiên. Khi một hành giả chứng đắc đạo quả A la hán vị aasydieetj tận mọi loại khổ và Đức Phật thúc giục các vị đệ tử hãy thực hành pháp cho đến khi chứng đắc mục đích tối hậu này.

            Di sản pháp tối hậu này chủ yếu dành cho các vị sư. Đối với người tại gia cư sỹ không thể sống trọn vẹn theo giáo pháp của ngài, thời có phương tiện pháp hay tuần tự pháp như bố thí, giữ ngũ giới suốt đời, thọ bát quan trai giới, cúng dường hương hoa tưởng nhớ Đức Phật tại các ngôi tháp, nghe pháp… Do làm những thiện sự này họ được tái sinh trong các cõi nhân thiên ở đây nhờ nghe pháp cuối cùng họ chứng đắc Niết Bàn. Nói cách khác, tuần tự pháp là một phương tiện để chứng đắc tối hậu pháp.

            Vì thế mọi người con Phật có niềm tin và lòng nhiệt thành nên cố gắng để đạt 4 đạo, 4 quả và Niết Bàn trong kiếp sống này. Nếu người ấy không thể đạt đến mục đích này, người ấy nên thực hành bố thí, trì giới… không phải chỉ đạt đến hạnh phúc các cõi nhân thiên, mà còn để chứng đắc niết bàn. Nói khác hơn, người ấy nên tầm cầu hai loại tài sản tối hậu pháp và phương tiện pháp

            Tuy nhiên , Đức Phật không muốn các đệ tử của ngài chạy theo những tài sản vật chất, ở đây tài sản vật chất không phải là đối tượng của sự chấp thủ có hai loại. Loại thứ nhất là bốn món vật dụng thiết yếu của vị sư: vật thực, y áo, thuốc trị bệnh, và chỗ ở. Khi một người gia nhập Tăng đoàn, họ được bảo đảm về 4 món vật dụng này. Họ có thể kiếm được chúng một cách dễ dàng. Vì long bi mẫn Đức Phật đã cảnh báo các đệ tử của ngài không nên để cho những tài sản vật chất này cám dỗ. Vì ngài thấy được rằng do dính mắc vào những tài sản vật chất này mà một số vị tỳ khưu đã bị đọa lạc vào 4 cõi khổ: địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh và atula.

            Thực sự không dễ để một người có thể trở thành đệ tử chân chánh của Đức Phật. Nhiều người có niềm tin vững vàng nơi Đức Phật. Một số thậm chí đã gia nhập tăng đoàn và dành trọn thời gian và năng lực của họ cho đời phạm hạnh. Nhưng bất chấp mọi sự tôn thờ Đức Phật của họ, bất chấp sự nhiệt tâm và chân thật của họ trong việc thực hành bố thí và trì giới,.. họ luôn có thể phải rơi xuống 4 cõi khổ. Vì chỉ có di sản tối hậu dưới hình thức đạo quả và Niết Bàn mới đảm bảo được sự giải thoát đích thực. Vì vậy quan tâm sâu sắc của Đức Phật chính là vì hạnh phúc tinh thần của người đệ tử.

            Theo Trưởng lão Xá Lợi Phất, một số vị đệ tử của Đức Phật đã dẫn đường đến sự suy đồi. Có 5 nguyên nhân khiến cho suy đồi gọi là triền cái hay những chướng ngại cho việc chứng thiền và trí tuệ: tham sục, sân hận, hôn trầm thụy mien, trạo cử hối hận và hoài nghi. Ở đây hôn trầm thụy miên có nghĩa là không sẵn lòng nghe hoặc thực hành thiện pháp và cảm thấy buồn chán nản chí trong lúc hành thiền. Trạo cử là bối rối hoặc lo lắng về những lầm lỗi mình đã phạm trong quá khứ. Còn hoài nghi muốn nói đến sự hoài nghi về Đức Phật, Giáo Pháp và Tăng chúng hay hoài nghi về con đường tu tập dân đến Đạo, Quả, và Niết Bàn.

            Nếu một người sống vô đạo đức, cho phép mình rượu chè, cờ bạc và nhiễm các thói xấu, con cái của người ấy sẽ noi theo khi chúng lớn lên. Cũng vậy, nếu các vị tỳ kheo Trưởng lão đầu hang trước những chướng ngại này và lãng phí thời gian vào những việc không liên quan đến giáo pháp chắc chắn sẽ có một tác động tha hóa trên các thành viên trẻ của tăng đoàn. Thực vậy, họ sẽ dẫn đầu về đọa lạc, học có vẻ hơi giống một người đã đặt gánh nặng  mà người ấy có bổn phận phải mang. Họ bỏ phế việc thực hành minh sát vốn dẫn đến sự diệt tận các phiền não. Một số từ bỏ pháp hành sau khi đã hành nó một thời gian và có số còn chỉ trích và ngăn cản những người đang hành thiền mình sát nữa. Vì thế, theo bài kinh Thừa Tự Pháp, những vị sư lầm đường, lạc lối này đáng bị khiển trách trên 3 điểm buộc tội. Họ không thực hành sự viễn ly mà Đức Phật coi trọng. Họ không nỗ lực để đoạn trừ các phiền não. Do quá khát khao tài sản vật chất, họ không thực hành.

Ngài Trưởng lão Xá Lợi Phất mô tả cặp ác tâm thứ nhất là tham và sân như hai phiền não đầu tiên cần phải diệt trừ. Tham là những ước muốn, thích thú, yêu ghét, dính mắc, chấp thủ… làm điều ác thường là do tham thúc đẩy. Con người ta đau khổ là do họ luôn phải tìm kiếm đối tượng làm thỏa mãn lòng tham của họ, họ phải làm vừa lòng những người mà họ yêu thương. Tham cung cấp nhiên liệu cho cái ác và do bản chất bất thiện của nó, dẫn đến khổ đau trong địa ngục, hơn nữa nó khiến cho một người phải tái sinh liên tục cùng với già bệnh, chết và cùng với hệ lụy của nó.

Sân có nghĩa là tức giận, ác ý, ước muốn công kích và hủy diệt, thấy hay nghe một điều không vừa ý chúng ta liền sân hận không vui, chúng ta nhượng bộ cho sân hận và để cho sân hận áp đảo, do sân hận chúng ta giết hoặc ngược đãi những người khác và tạo những nghiệp bất thiện đưa đến các cõi khổ. Còn nếu tái sinh trong cõi người chúng ta sẽ phải trả giá cho những hành động do sân thúc đẩy trong quá khứ của chúng ta dưới hình thức đoản thọ, bệnh tật….

Có con đường chân chính để vượt qua tham và sân. Đó là con đường trung đạo hay con đường trung dung giữa hai cực đoan, đắm chìm trong cac dục lạc và ép xác khổ hạnh. Con đường của Đức Phật tránh xa hai cực đoan ấy và con đường trung đạo này không tìm thấy trong bất cứ hệ thống tư tưởng phi phật giáo nào. Đó là Bát Chánh Đạo gồm chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. Con đường này giúp chúng ta phát triển con mắt trí tuệ.

Cặp ác tâm thứ hai là phẫn nộ và hiềm hận. Hai pháp này cũng ngấm ngầm trong sân, việc theo đuổi các tài sản vật chất dẫn đến tham. Nếu tham không đạt được mục đích của nó, sân hận phát sinh và nếu nó được thỏa mãn, tham với vật khác sẽ phát sinh. Sự không thỏa mãn của tham khiến chúng ta buồn khổ. Sân tạo ra thù hận đối với người không cho chúng ta thứ gì đó hay đối với người chúng ta không thích. Nó truyền lực tham vào 9 tâm bất thiện có gốc ở tham. Chín tâm bất thiện đó là: 1 là do tham mà theo đuổi, 2 là được vật đó theo đuổi, 3 là quyết định cách sử dụng nó, 4 là thích thú trong quyết định ấy, 5 là dính mắc thái quá vào nó, 6 là chấp thủ vào đối tượng, 7 là bỏn xẻn, 8 là canh giữ đối tượng, 9 là tranh cãi, xung đột vũ trang, nói xấu và lường gạt phát sinh do cần phải canh giữ tài sản của mình.

Trạng thái tâm bất thiện này bắt đầu với phẫn nộ rồi sau đó đến ác tâm. Nếu một người không đạt được vật mà mình tìm kiếm, họ sẽ trút nỗi giận của mình lên bất cứ người nào đạt được nó và nếu sự tức giận này được khơi lại nó trở thành hiểm độc. Nói chung, tât cả các  loại khao khát và thích thú đều có thể được xem như tham và tất cả các loại bực tức, thất vọng, ác ý đều là sân. Tất nhiên phẫn nộ và hiềm hận là những pháp thấp hèn và hạ liệt. Chúng ta phẫn nộ khi đương đầu với một đối tượng giác quan hay cảnh trần không đáng ưa nào đó. Phẫn nộ giống như con rắn hổ phùng mang và rít lên khi bị khiêu khích vậy. Ngay cả người có cách cư xử tử tế và nhã nhặn đôi khi cũng nhạy cảm đến độ bộc lộ ra những cảm xúc của họ khi nghe những lời nói công kích. Một sự bộc phát của tính khí như vậy có thể trở thành nguyên nhân cho sự hổ thẹn và hối tiếc về sau. Nó cũng có thể trả giá bằng việc mất đi tình bạn của một người nào đó và làm tổn thương thanh danh của họ.

Một số người còn có thể nuôi dưỡng ác cảm đối với người đã xúc phạm họ. Chúng ta có thể oán giận một người chỉ bởi vì chúng ta nghĩ rằng hắn đã gây nguy hiểm cho những lợi ích của ta trong quá khứ, hay nó đã gây nguy hiểm đến lợi ích của ta trong hiện tại, hoặc nó sẽ gây nguy hiểm cho những lợi ích của ta trong tương lai. Đối với thân quyến hay với một người mà chúng ta thương yêu chúng ta cũng có thể chấp giữ một niềm tin tương tự như vậy.

Có một số người bộc lộ sự khó chịu của họ mà không có bất cứ lý do gì để biện minh cho việc ấy. Có thể họ sẽ bực mình với ông trời, với gió, với mưa hay những vật vô tình nào khác do một sự thất vọng hay rủi ro nào đó đang xảy ra cho họ. Như vậy, có khi một gốc cây ngáng đường làm họ vấp ngã họ sẽ nguyền rủa cái gốc vô tri ấy và thậm chí có người còn bộc lộ sự hận thù bằng cách đá hay đánh đập vào cái gốc cây ấy nữa. Đây là một tướng xấu của sự cáu kỉnh thô, một tướng tiêu biểu của đa số những người nóng tinh và được Pali đặt tên là phi xứ phẫn nộ, tức sự phẫn nộ không đúng chỗ hay phi lý. Nó là một pháp thấp hèn, hạ tiện và làm giảm thanh danh của một người.

Cặp ác tâm thứ 3 là vô ơn và tự phụ. Vô ơn là không tỏ long biết ơn đối với người đã giúp đỡ mình. Không có gì phải hoài nghi về sự hàm ơn sâu xa mà chugns ta đã mắc nợ các đấng sinh thành của chúng ta cả. Tuy thế một số người trẻ ngày nay chẳng những không sẵn lòng nói lên sự biết ơn của họ mà còn cho rằng phận sự của cha mẹ đối với họ là những những thiện nghiệp của họ trong quá khứ. Một số thì phủ nhận sự hàm ơn của họ với các thầy cô giáo hay các bậc lớn tuổi đã giúp cho sự tiến bộ về mặt tri thức của họ và cho rằng họ được thành công là nhờ nỗ lực tự thân của họ. Thực sự chúng ta nên biết ơn một người dù sự đóng góp mà họ đã làm vì sự an vui và hạnh phúc của chúng ta có nhỏ nhoi đến thế nào chăng nữa và tùy theo khả năng của mình thì hãy làm một điều gì đó để đền đáp lại sự phục vụ của họ.

Một ác tâm khác là tự phụ, mong muốn xem mình ngang tầm với những người bình thường, hay siêu việt hơn về trí tuệ. Một số người đưa ra tuyên bố quá đáng về giới hạnh, sự uyên thâm giáo pháp hay sự chứng đắc này nọ của mình, tự xếp mình ngang hàng hay thậm chí cao hơn những người thực sự có thuộc tính ấy.

Cặp ác tâm kế tiêp mà Ngài Xá Lợi Phất vạch mặt là ganh tỵ và bỏn xẻn. Khuynh hướng chung của con người là hay ganh tỵ với người khác về sự giàu sang, diện mạo, giáo dục, chức quyền, tài lãnh đạo hay những thuộc tính đáng khen ngợi khác. Chúng ta om long bỏn xẻn khi chúng ta không muốn thấy ai đó có cái giống như cái chúng ta đang có hoặc khi chúng ta không muốn những người khác có cái chúng ta thích.

Bỏn xẻn về chỗ ở, điều này liên quan đặc biệt liên quan đến các vị sư. Chính sự bỏn xẻn về chỗ ở này khiến các vị sư muốn độc quyền một ngôi chùa và từ chối quyền cư trú trong ngôi chùa ấy của các vị sư hiền thiện khác.

Cặp phiền não kế tiếp chúng ta phải bàn đến là xảo trá và đạo đức giả. Có nghĩa là mánh khóe chúng ta sử dụng để che dấu những lỗi lầm và làm ra ta đây là người tô tội, đạo đức giả là hay khoe khoang những phẩm chất mà mình không thực sự có, có những loại đạo đức giả trong tôn giáo, họ làm ra vẻ ta đây là người đa văn, học rộng hay làm như ta đây cống hiến cả đời cho việc thực hành khổ hạnh hay có những năng lực thần thông hay đạt đến tuệ giác cao trong thiền minh sát. Họ dung đến những mưu mẹo và thủ đoạn để làm cho những kẻ ngu mê ấn tượng.

Cặp ác tâm kế tiếp mà chúng ta phải chiếu cố đến là cứng đầu và hợm hĩnh, cứng đầu là không có lòng kính trọng đối với những người và vật đáng kính trọng. Một số người có thái độ miễn cưỡng khi tỏ lòng tôn kinh đối với các hình tượng Phật,điện, thờ , những người lớn tuổi…. hoặc bằng cử chỉ và lời nói. Hợm hĩnh là mong muốn làm một việc nào đó không thích hợp để chứng tỏ mình nổi trội hơn người khác. Điều  này được thấy rõ trong trường hợp một người sử dụng đồng tiền của mình một cách ngông cuồng chỉ để nooir trội hơn người khác về phương diện bố thí.

Cặp phiền não kế tiếp đáng được chú ý là Mạn và tăng thượng mạn. Mạn và sự tự kiêu hay tự cao tự đại mà nguồn gốc của nó có thể là về gia tộc, sự giàu sang, nhan sắc, trí thông minh hay kẻ hầu người hạ. Mạn có 3 loại đó là ngã thắng mạn, ta hơn người, ý thức về sự hơn người khác về gia tộc, địa vị xã hội… Ngã đẳng mạn là ta bằng người là ý thức về sự bình đẳng với người khác, ngã liệt mạn là ta kém người, là ý thức về sự thua kém trên phương diện nào đó. Đây là một cảm giác được hình thành không phải trên căn bản của sự khiêm tốn hay kính trọng người khác mà do tính tự phụ và tự kiêu. Mỉa mai thay nó lại làm cho một người tỏ ra ngang ngạnh và khinh bỉ những tầng lớp cao hơn.

Loại mạn khác là tăng thượng mạn vốn có nghĩa là tự phụ thái quá. Mới đầu có thể một người chỉ tự xem mình ngang bằng với những người  khác những sau đó niềm tin này có thể phát triển thành tăng thượng mạn đưa anh ta có một quan niệm quá cường điệu về bản thân.

Cặp phiền não cuối là kiêu hãnh và phóng dật. Ở Ấn  Độ có hệ thống giai cấp là vua chúa hay quý tộc, Bà La môn, giai cấp thương buôn và giai cấp nô lệ. Vua chúa và Bà La Môn thường chất chứa niềm kiêu hãnh dòng máu hoàng tộc hay do sự đa văn học rộng của họ và điều này luôn làm cho họ mù quáng và phi lý.

Một số người trở thành miếng mồi cho sự kiêu hãnh do sự dính mắc vào dòng tộc, sức khỏe, tuổi trẻ, sự sống lâu của họ. Kiêu hãnh có thể là nguồn gốc trong sự thủ đắc của cải, một số người quá hão huyền với tài sản tích cóp của mình đến nỗi không ai quan tấm đến việc thực hành chánh niệm.

Bây giờ chúng ta bàn tiếp đến  nguyên nhân sinh kiêu hãnh đó là: có nhiều người đi theo mình, nhiều của cải, sắc đẹp, kiến thức, trí thông minh sắc bén, danh tiếng, thâm niên, sự thành tựu, hay ngoại hình cao ráo và cân xứng. Kiêu hãnh có thể bắt nguồn từ sự chấp giới. Những người có giới trong sạch đôi khi nói năng một cách xấc xược với những người không giữ giới. Một người có thể bị kiêu hãnh thống trị do nổi trội trong một ngành học truyền thống nào đó…

Ác pháp cuối cùng chúng ta phải vượt qua trên đạo lộ giải thoát là phóng dật có nghĩa là mất chánh niệm dẫn đến không tự chủ về hành vi, lời nói và ý nghĩ. Phóng dật được xem là ác pháp tồi tệ nhất va thô lậu nhất trong các loại ác pháp. Sát sanh, trộm cắp, tà dâm tạo thành phóng dật về thân trong khi nói dối, nói lời chia rẽ, nói lời thô lỗ, và nói lời vô ích tạo thành phóng dật về khẩu, và chính phóng dật về ý đưa đến thèm muốn tài sản của người khác,

Phóng dật dẫn chúng ta đến chỗ làm điều ác về thân, khẩu và ý. Phóng dật có nghĩa là buông thả tâm thay vì kiềm chế nó, cũng như tháo cột dây con bò để cho nó đi tìm thức ăn theo ý muốn vậy. Thuốc giải cho phóng dật là nghiêm trì giới luật.Trên thánh đạo phóng dật được bứng gốc khi người hành thiền thành tựu những tiến bộ liên tiếp từ giai đoạn này đến giai đoạn khác. Như vậy ở giai đoạn nhập lưu, tâm phóng dật bất thiện đưa đến việc phạm giới một cách trắng trợn hoàn toàn bị tiêu diệt. Kế đến, bất lai đạo tạo ra sự diệt hoàn toàn của những tâm phóng dật phát sinh những tư duy bất thiện như tư duy tham dục, tư duy sân hận, và với sự chứng đắc A la hán thánh đạo được bảo đảm sự diệt hoàn toàn của các tâm phóng dật khác còn lại.

Vì vậy, để diệt hoàn toàn những phiền não phối hợp phóng dật nhất thiết chúng ta phải thực hành bát chánh đạo cho đến khi chứng đắc đạo quả bất lai vậy. Thực hành bát chánh đạo cũng giống như uống một viên thuốc quý để điều trị các bệnh ác hiểm. Thuốc quý giúp chúng ta vượt qua nhiều loại bệnh nguy hiểm như thế nào thì thực hành bát chánh đạo cũng giúp chúng ta loại trừ những loại phiền não khác nhau như vậy.

 ( Trích Giảng giải kinh thừa tự Pháp –Mahasi Sayadaw Tỳ khưu Pháp Thông dịch)

 

 

 

Từ khóa

thương hiệu nổi tiếng Điều giới trộm cắp Phiền não là gì? phật pháp Minh Đức Triều Tâm Ảnh Kho báu chánh pháp Đại thiện nghiệp của người không sát sinh Nghi thức xin thọ phép quy y tam bảo và thọ trì ngũ giới tu kiểu bắt dế Đức Phật 5 đại thí Kho báu chánh pháp tránh xa sự tà dâm Tránh xa sự nói dối tương ưng bộ kinh phẩm thiên sáu xứ Tránh xa sự tà dâm Pháp ngũ giới thừa tự pháp Giảng giải về điều giới Bát Chánh Đạo Thọ trì ngũ giới Quả khổ của người phạm giới sa di trưởng lão Tránh xa uống rượu bia và các chất say Tránh xa uống rượu Điều giới nói dối chánh pháp vua A-xà-thế Quả báu của đại thiện nghiệp của người không tà dâm Sự tai hại của sự uống rượu bia và các chất say Ngũ giới là thương giới 7 Pháp Giúp Quốc Gia Hưng Thịnh Phật giáo nguyên thủy Ngũ giới là thường giới tránh xa sự sát sinh quản lý nghiệp quy luật vũ trụ phân tích chỉ số tài chính giám đốc tài chính kế toán trưởng Kiểm soát chi phí tài chính kế toán kế toán tài chính phân tích tài chính quản trị tài chính Thiết kế giải pháp giá trị Kho kiến thức quản trị điều hành doanh nghiệp Người giàu có nhất thế gian Người giàu nhất thế gian Người giàu nhất thành Babylon Người Giàu Có Nhất Thành Babylon Người giàu nhất thành babylon
Facebook Instagram Youtube Top